Latest Entries »

Trong nhiều tài liệu của các tu sĩ đến truyền giáo hoặc có đi qua lãnh thổ Việt Nam còn lưu lại đều khẳng định Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam.
Bài 1: Chủ quyền qua tài liệu tôn giáo
 
1. Giáo sĩ Alexandre de Rhodes đã xuất bản tại Roma nhiều sách bằng chữ quốc ngữ như Từ điển Việt – Bồ – La (1651), Giáo lý Giảng tám ngày (1651). Đặc biệt trong sách Regnũ Annam (1650, Vương quốc An Nam) đi kèm theo tấm bản đồ nước ta đầu tiên chú thích rõ ràng bằng chữ quốc ngữ.
 
Chúng tôi phỏng đoán Alexandre de Rhodes vẽ bản đồ này theo mẫu An Nam quốc đồ (1490) thời Hồng Đức, vì để phía tây lên trên và đại cương nét biển, sông, núi cũng tương tự. Ở ngoài khơi Quảng Ngãi bản đồ Hồng Đức ghi rõ chữ Đại Hải (bằng Hán tự) còn bản đồ Đắc Lộ ghi thêm cù lao Ré (tức đảo Lý Sơn) và xa ngoài khơi là đảo Pulo Sisi ở đúng địa điểm Hoàng Sa. Như vậy Việt Nam đã làm chủ quần đảo Hoàng Sa ít nhất là từ cuối thế kỷ XVI rồi.
 
An Nam đại quốc họa đồ của Giám mục Taberd ghi rõ bằng chữ quốc ngữ và âm tiếng ta: Paracel seu Cát Vàng (đảo Paracel hay Cát Vàng).
 
2. Hòa thượng Thích Đại Sán (1633-1704) là nhà sư Trung Hoa được chúa Minh – Nguyễn Phước Chu (1691-1725) mời sang Đàng Trong thuyết pháp về đạo Phật trong hai năm 1694-1695. Khi về nước, hòa thượng đã viết sách Hải ngoại ký sự, trong đó nói đến biển Đông và Hoàng Sa, Trường Sa: “Bãi cát rộng cả trăm dặm, chiều dài thăm thẳm chẳng biết bao nhiêu mà kể gọi là Vạn Lý Trường Sa… Quảng ấy cách Đại Việt bảy ngày đường… thời quốc vương trước, hằng năm thuyền đánh cá đi dọc theo bãi cát, lượm vàng bạc, khí cụ của các thuyền hư tấp vào”.
 
3. Năm 1701, đoàn giáo sĩ thừa sai sang Trung Hoa đã kể lại trong Các bức thư nêu gương sáng và giải tỏa tò mò (Lettres edifiantes et curieuses) như sau: “Với luồng gió tốt, chúng tôi xuống tàu và chẳng bảo lâu đã tới phía trên đảo Paracel. Paracel là một quần đảo thuộc đế quốc An Nam). Đó là những tảng đá rất đáng sợ rộng hơn 100 hải lý, một cơn gió lớn làm đắm tàu bất kỳ lúc nào”.
 
Quần đảo Paracel nằm dài gần bờ biển nước Cochinchine (Giao Chỉ gần Trung Hoa), xưa gọi là nước An Nam. Tàu Amphitrite lần đầu đi Trung Hoa tưởng là sẽ bị tử nạn nơi đây. Thủy thủ đoàn tưởng rằng chưa đến nỗi khi họ thấy con tàu chúi mũi vào một bãi biển chỉ có bốn hay năm sải nước mà thôi. Trong cơn nguy kịch đó họ nguyện cầu nếu qua khỏi họ sẽ xây dựng một giáo đường trên mộ thánh Phanxicô Xavie tại đảo Sancian (Tam Sơn). Họ được chấp nhận lời nguyền và thoát khỏi cơn nguy kịch như một phép lạ. Để kỷ niệm sự cố này, các nhà địa lý và hàng hải lấy tên tàu Amphitrite làm địa danh cho các đảo ở phía đông bắc Hoàng Sa mà ta gọi là nhóm đảo Tuyên Đức.
 
4. Năm 1833, Giám mục Taberd cho ra sách với nhan đề: Vũ trụ, lịch sử và mô tả hết mọi dân tộc, cùng tôn giáo, phong tục tập quán. Trong đó có đoạn mô tả rõ địa lý quần đảo Hoàng Sa: “Chúng tôi không đi sâu kể hết các hải đảo chính thuộc chủ quyền nước Giao Chỉ gần Trung Hoa (Cochinchine, quốc hiệu chính thức khi ấy đã là Việt Nam). Chúng tôi chỉ xin lưu ý rằng từ 34 năm trước đây, quần đảo Paracels gọi là Cát Vàng hay Hoàng Sa.
 
Bản đồ Vương quốc An Nam của Alexandre de Rhodes lần đầu tiên chú thích rõ ràng biển, đảo của Việt Nam bằng chữ quốc ngữ.
 
Một khu vực rắc rối như mê hồn trận gồm nhiều đảo nhỏ và các bãi cát làm cho các nhà hàng hải sợ hãi đã do người Việt Nam chiếm giữ. Chúng tôi đã không biết họ thiết lập một cơ sở nào chưa, song chắc chắn rằng hoàng đế Gia Long đã quan tâm kết hợp thêm một cánh hoa nhỏ ấy vào vương miện của mình, vì ông xét là thích hợp nên đích thân ra đảo thực hiện chủ quyền năm 1816 và trân trọng trưng quốc kỳ Việt Nam”.
 
Năm 1838, Giám mục Taberd xuất bản tại Serampore (Ấn Độ) bộ từ điển đồ sộ Nam Việt Dương hiệp Tự vị (Dictionarium Anamitico Latinum). Trong đó có tấm bản đồ Việt Nam cỡ lớn (40 x 80 cm) ghi tên ba thứ tiếng Việt – Hán – Latin: An Nam Đại quốc họa đồ. Bên tay phải bản đồ, phía trên vĩ tuyến 16, Taberd ghi rõ: Paracel seu Cát Vàng (đảo Paracel hay Cát Vàng).
 
Taberd viết chữ quốc ngữ và âm tiếng ta chứ không gọi Paracel là Hoàng Sa. Điều này càng khẳng định quần đảo Hoàng Sa và cả quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam, vì xưa kia địa danh Paracel chỉ cả khối các đảo nhỏ và bãi cát suốt từ Bắc xuống Nam, mà Đại Nam Thống Nhất Toàn Đồ (thời Minh Mạng) gọi phần Bắc là Hoàng Sa và phần Nam là Vạn Lý Trường Sa.

* * *

Như vậy các nhà tu hành Tây phương cũng như Trung Quốc rất khách quan, thấy sao nói vậy: Các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam!
Theo Nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu
Pháp luật TPHCM

Việc bảo vệ chủ quyền quốc gia là thiêng liêng, bất khả xâm phạm. Trên lĩnh vực này, mọi quốc gia – dân tộc đều bình đẳng, không có phân biệt nước lớn – nước nhỏ và càng không có quyền nước lớn áp đặt cho nước nhỏ. – GS Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội khoa học Lịch sử Việt Nam nói.

Tính toán có chủ đích của Trung Quốc

GS nghĩ gì về hành động Trung Quốc cắt cáp của tàu thăm dò địa chấn của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam ngày 26/5 và 9/6?

Tàu Bình Minh 02 và Viking 02 tiến hành khảo sát địa chấn trong phạm vi thềm lục địa thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam. Rõ ràng việc cắt cáp hai tàu đó của Trung Quốc là hành động khiêu khích xâm phạm chủ quyền Việt Nam theo Công ước Liên hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 mà Trung Quốc đã tham gia. Hơn thế nữa, hai vụ xảy ra chỉ cách nhau 14 ngày, chứng tỏ tính nghiêm trọng của sự vi phạm và sự tính toán có chủ đích của Trung Quốc.

Theo GS, tính nghiêm trọng của vụ việc và chủ đích của Trung Quốc biểu thị ở chỗ nào?

Sau vụ thứ nhất, Việt Nam đã tuyên bố phản đối và yêu cầu Trung Quốc chấm dứt hành động vi phạm, kêu gọi hai bên cùng tôn trọng Luật Biển năm 1982, trở lại Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông DOC năm 2002, thực thi những thỏa thuận của lãnh đạo hai nước trong gìn giữ mối quan hệ hữu nghị giữa hai nước.

GS Phan Huy Lê. Ảnh: TTXVN

Vụ thứ hai cho thấy Trung Quốc bất chấp tất cả và đang theo đuổi một mục tiêu chiến lược của mình. Đó là việc đơn phương và ngang ngược áp đặt rồi từng bước hiện thực hóa yêu sách “đường lưỡi bò” hoàn toàn không có căn cứ lịch sử và cơ sở pháp lý. Đây là mối đe dọa không chỉ chủ quyền Việt Nam mà cả lợi ích của nhiều nước trong khu vực và các nước trên thế giới trong sử dụng con đường hàng hải quốc tế nối Thái Bình Dương với Ấn Độ Dương qua vùng biển Đông Nam Á.

Nước lớn không có quyền áp đặt nước nhỏ

Trước tình hình đó, theo GS, Việt Nam nên ứng xử và đối phó thế nào?

Những hành động của Trung Quốc đang làm cho tình hình Biển Đông nóng dần lên. Dĩ nhiên Việt Nam phải theo dõi sát sao, xây dựng chiến lược ứng phó lâu dài, đồng thời cần chủ động đối phó kịp thời với từng việc cụ thể. Tôi muốn nêu lên mấy suy nghĩ và đề xuất sau đây:

1. Lập trường bất biến của chúng ta là coi việc bảo vệ chủ quyền quốc gia, lãnh thổ toàn vẹn của đất nước là thiêng liêng, bất khả xâm phạm. Trên lĩnh vực này, mọi quốc gia – dân tộc đều bình đẳng, không có phân biệt nước lớn – nước nhỏ và càng không có quyền nước lớn áp đặt cho nước nhỏ.

Lịch sử Việt Nam còn ghi lại bao lời tuyên bố vang vọng mãi với non sông đất nước, thấm sâu trong tâm trí các thế hệ con người Việt Nam như lời thề non nước. Đó là lời thơ thần “Nam quốc sơn hà Nam đế cư” thời chống Tống thế kỷ XI, lệnh của hoàng đế Lê Thánh Tông “Một thước núi, một tấc sông của ta, lẽ nào lại vứt bỏ… Kẻ nào dám đem một thước, một tấc đất của vua Thái Tổ làm mồi cho giặc thì phải tội tru di” năm 1473, lời kêu gọi “Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ (đánh cho biết rằng nước Nam anh hùng và có chủ)” của Quang Trung Nguyễn Huệ trong chống Thanh thế kỷ XVIII, lời tuyên bố của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tuyên ngôn độc lập năm 1945 “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập”.

Lịch sử Việt Nam cũng chứng tỏ rằng Việt Nam tuy là nước nhỏ (so với nhiều nước xâm lược, nhỏ hơn nhiều lần về lãnh thổ, dân số, tiềm lực kinh tế, quân sự) nhưng vẫn có thể tạo nên sức mạnh để bảo vệ độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia. Đó là chiến lược giữ nước “dĩ đoạn chế trường (lấy ngắn chế dài)” theo Trần Quốc Tuấn, “dĩ nhược chế cường, dĩ quá địch chúng (lấy yếu chống mạnh, lấy ít địch nhiều)”, “dĩ đại nghĩa nhi thắng hung tàn, dĩ chi nhân nhi địch cường bạo (lấy đại nghĩa mà thắng hung tàn, lấy chí nhân mà thay cường bạo)” theo lời Nguyễn Trãi.

2. Hết sức coi trọng việc giữ gìn hòa bình, ổn định cho đất nước và khu vực, biết tự kiềm chế, kiên trì sử dụng các giải pháp ngoại giao, chính trị để giải quyết các vụ đụng độ, tranh chấp trên Biển Đông bằng công pháp quốc tế và bằng con đường đấu tranh ngoại giao, bằng đàm phán giữa các nước có quyền lợi liên quan. Cần triển khai mạnh mẽ, chủ động mặt trận đấu tranh ngoại giao, nhất là ngoại giao pháp lý, trên các diễn đàn và trong các tổ chức khu vực và quốc tế, làm cho dư luận thế giới thấy rõ lẽ phải và chính nghĩa của Việt Nam, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của cộng đồng ASEAN và các nước trên thế giới. Trong cuộc đấu tranh này, không phải sức mạnh quân sự mà là sức mạnh của lẽ phải, của chính nghĩa và của trí tuệ có sức thuyết phục cao nhất.

3. Bảo vệ độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia không chỉ là trách nhiệm của Đảng cầm quyền và Nhà nước Việt Nam mà còn là trách nhiệm và nghĩa vụ thiêng liêng của nhân dân, của mọi người Việt Nam ở trong nước và nước ngoài. Vì vậy cần thông tin kịp thời, công khai mọi diễn biến tình hình Biển Đông cho nhân dân biết để tạo nên sự đồng thuận và tham gia của toàn dân, của cả dân tộc Việt Nam.

4. Lịch sử hàng nghìn năm bảo vệ đất nước cho thấy sức mạnh tiềm tàng lớn lao nhất của dân tộc Việt Nam là sức mạnh của lòng yêu nước, sức mạnh của khối đoàn kết toàn dân tộc. Mỗi khi Tổ quốc lâm nguy hay bị đe dọa, mọi người Việt Nam đều sẵn sàng gạt bỏ lợi ích riêng, đặt lợi ích dân tộc lên trên hết để chung sức bảo vệ đất nước. Chúng ta không bao giờ được quên những tổng kết của tổ tiên như lời Trần Quốc Tuấn, muốn giữ nước phải lo “trên dưới một dạ, lòng dân không lìa”, “vua tôi đồng lòng, anh em hòa thuận, cả nước chung sức”, “chúng chí thành thành (ý chí của dân chúng là bức thành giữ nước)”, lời Nguyễn Trãi “sức dân như nước”, “thuyền bị lật mới thấy dân như nước”…

Sức mạnh quốc phòng rất quan trọng, sự liên kết quốc tế rất cần thiết nhưng sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước và đoàn kết dân tộc luôn luôn là nền tảng giữ vai trò định đoạt. Vì vậy, nâng cao hiểu biết của nhân dân về quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa trên Biển Đông và cơ sở lịch sử – pháp lý về chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa là rất cần thiết và quan trọng. Rất tiếc, cho đến nay, những ấn phẩm nghiên cứu và phổ cập về những vấn đề này còn quá ít, chưa đáp ứng yêu cầu tìm hiểu của nhân dân.

Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam đang khẩn trương hoàn chỉnh bản thảo để xuất bản một công trình nghiên cứu về chủ quyền Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, cũng nằm trong mong muốn đóng góp một phần giải quyết nhu cầu này.

Theo Tạp chí Xưa và Nay số 381, tháng 6/2011

http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2011-07-08-nuoc-lon-khong-co-quyen-ap-dat-nuoc-nho

Tự dưng hôm nay có hứng bàn chuyện tuyên truyền. Có lẽ qua lá thư của một bạn đọc dưới đây và qua những dòng chữ của Bọ Lập(câm mồm! để cho tao ăn cướp- đọc tựa đề đã ấn tượng! :-) ) làm tôi thấy muốn nói thêm. Vậy xin nhân dịp này bàn thêm về những đặc điểm của tuyên truyền.

Chúng ta thử đọc những dòng chữ dưới đây. Nhưng xin nói trước, nếu các bạn mắc bệnh tim mạch thì không nên đọc (tôi không chịu trách nhiệm nhé).

Việt Nam xâm chiếm nhiều đảo nhất, có nguy hại lớn nhất, hơn nữa có thái độ kiêu ngạo nhất, ảnh hưởng xấu nhất.”

“Trước đây, Việt Nam đã nhất nhất thừa nhận Tây Sa và Nam Sa thuộc chủ quyền của Trung Quốc.”

“Trên lĩnh vực quân sự, đáng tiếc rằng Việt Nam đã làm những việc gây phản ứng mãnh liệt như xâm chiếm nhiều đảo mới, giam giữ ngư dân và tàu đánh cá Trung Quốc.”

Những câu chữ đó xuất phát từ đâu vậy? Xin thưa: đó là những phát biểu của giới cầm quyền Bắc Kinh, những người chúng ta đã và đang – trớ trêu thay – gọi là bạn.

Bạn đọc có thể kinh ngạc tại sao trên thế giới này có những kẻ trơ trẽn đến dã man biến nạn nhân thành hung phạm, ngang ngược biến trắng thành đen, bất chấp thực tế biến không thành có, v.v. như thế. Đây không phải là lần đầu những luận điệu như trên xuất hiện trên giấy trắng mực đen; mà những luận điệu như thế này đã được rao truyền trong dân chúng Trung Quốc từ mấy chục năm qua. Chúng đã góp phần nhào nặn nên một thế hệ người Trung Quốc xem Việt Nam là một thuộc địa của chúng, người Việt Nam xảo quyệt và vô ơn. Kể ra thì đó cũng là một thành công lớn của những tác giả giàu trí tưởng tượng nhưng thâm thần bệnh hoạn.

Nhưng lí giải thế nào về “hiện tượng” đó? Nói “hiện tượng” thì oan cho chữ này quá (bởi vì những câu chữ tôi trích trên đã trở thành quán tính trong suy nghĩ chứ chẳng có gì ngạc nhiên), nhưng thôi thì hãy tạm dùng chữ đó để bàn chuyện vậy. Tôi nghĩ chỉ có thể giải thích cái sản phẩm chữ nghĩa quái thai trên đây của nhà cầm quyền Trung Quốc bằng hai chữ: tuyên truyền.

Tôi không định nghĩ tuyên truyền nữa, vì đã nói trong một bài trước và nhiều chuyên gia khác đã nói. Nhưng nhắc đến tuyên truyền hay propaganda mà không nhắc đến Nhà văn George Orwell thì quả là một thiếu sót. Trong tác phẩm nổi tiếng 1984, Orwell viết một cách tiên tri về xảo thuật tuyên truyền như là một vũ khí … chống công dân. Ông mô tả nhiều loại hình tuyên truyền, trong đó có loại hình doublethink (suy nghĩ kép). Đó là cách biến trắng thành đen, biến đen thành trắng, và nói một cách càng trơ trẽn càng tốt. Đó là kiểu nói “Chiến tranh là hòa bình, tự do là nô lệ, ngu dốt là sức mạnh” (“WAR IS PEACE. FREEDOM IS SLAVERY. IGNORANCE IS STRENGTH”. Ngày nay, những gì Orwell viết quá ứng nghiệm với những gì tôi trích dẫn ở trên.

Người Việt chúng ta cũng có những câu để mô tả tình trạng loạn chuẩn trên. Vừa ăn cướp vừa la làng hay Gái đĩ già mồm có thể hiểu là một cách tuyên truyền theo nghĩa của Orwell. Tôi nghĩ chúng – những kẻ ngồi ở Bắc Kinh viết ra những dòng chữ trên – không ngu xuẩn đến độ không biết đó là vô lí, nhưng logic ở đây không thành vấn đề; vấn đề là tuyên truyền. Vậy thì câu hỏi đặt ra: làm sao chúng ta nhận dạng ra tuyên truyền?

Tôi nghĩ đặc điểm số 1 để nhận ra một bài viết là tuyên truyền hay không là xem xét tính ngụy biện của nó. Thật vậy, tuyên truyền dựa vào ngụy biện là chính, vì ngụy biện dễ thu hút khán giả. Có nhiều hình thức ngụy biện đã được mô tả trước đây. Những hình thức ngụy biện mà giới tuyên truyền hay sử dụng là lợi dụng cảm tính, tấn công cá nhân, khái quát hóa tùy tiện, và lợi dụng quyền lực.

Những gì chúng ta thấy từ bọn đầu não Bắc Kinh cho thấy đặc tính số 1 của tuyên truyền: lợi dụng cảm tính. Thật vậy, tuyên truyền lợi dung tối đa cảm tính, chứ không phải tri thức và logic. Những gì tuyên truyền nói là vô lí, hoàn toàn không có logic. Chả thế là Hitler (một tên ác ôn nhưng là một nhà tuyên truyền có tài) từng nói đại khái rằng nếu bạn nói láo, thì đừng nói láo nhỏ nhặt, bởi vì người ta sẽ nhận ra ngay đó là lời nói láo; nên nói láo thật lớn, nói láo những gì người ta không thể tưởng tượng nổi. Và, cứ tiếp tục nói láo cho đến khi nào người ta tin đó là sự thật. Tức là, nói láo càng nhiều, càng to tát, thì càng có hiệu quả. Chẳng hạn như bọn Bắc Kinh đang rêu rao rằng Việt Nam tấn công tiến chiếm hải đảo của chúng, và gieo một sự hận thù trong người Trung Quốc. (Cũng chẳng khác gì trước đây Mĩ cho dàn dựng một y tá người Kuwait xuất hiện trước Quốc hội Mĩ nói rằng quân lính Iraq quăng trẻ em sơ sinh vào lò thiêu và ăn sống, nhưng sau này người ta mới biết cô ấy là con gái ông đại sứ Kuwait tại Mĩ và màn kịch được dàn dựng bởi một công ti PR). Đó là một lời nói láo cực kì vô lí không ai có thể tưởng tượng nổi một Việt Nam bé nhỏ tấn công một nước khủng lồ như Trung Quốc. Nhưng đó là xảo thuật truyên truyền mà những kẻ làm tuyên truyền ở Bắc Kinh đang vận dụng rất bài bản.

Đặc điểm thứ hai của tuyên truyền là tấn công cá nhân. Tiếng Anh gọi là name calling. Tiếng Latin là ad hominem. Thật ra, đó là một hình thức ngụy biện phổ biến nhất và có khi có hiệu quả nhất. Chẳng hạn như ở phương Tây, khi giới chính trị gia không thuyết phục được thượng nghị viện thông qua một đạo luật nào đó, họ tìm cách nói xấu thượng nghị sĩ, kiểu như ông ấy là người không đàng hoàng, ăn chơi đàng điếm, dù những chuyện cá nhân như thế nếu có thật chẳng liên quan gì đến đạo luật. Hay khi không tranh luận không lại đối phương, người ta bắt đầu phao tin nói xấu về nhân cách, nhân thân của đối phương, tìm cách gắn cho đối phương một nhãn hiệu. Nhãn hiệu có thể là phát xít, cộng sản, phản động, v.v. Đó chẳng những là ngụy biện mà còn là hình thức tuyên truyền rất hạ cấp. Nó còn là triệu chứng của sự thiếu tự tin, không dám lí luận, mà phải dùng đến những trò phi chính thống. Tuyên truyền rất thích ngụy biện dưới hình thức tấn công cá nhân.

Đặc điểm thứ ba của tuyên truyền là khái quát hóa. Khác với tấn công cá nhân (mà trong đó người ta gắn cho đối phương một nhãn hiệu tiêu cực), khái quát hóa tìm cách gắn cho sự việc một nhãn hiệu cao sang. Những nhãn hiệu này có thể là văn hóa, văn minh, dân chủ, công bằng, bác ái, tự do, vinh quang, anh hùng, danh dự, công lí, tình thương, hòa bình, khoa học, v.v. Có thế lấy ví dụ về việc nghiên cứu sự vận hành của nhà nước vốn chỉ là một việc làm mang tính hành chính nhưng người ta cố tình gắn cho việc làm một danh hiệu cao quí là khoa học: khoa học chính trị. Theo đà đó, bất cứ việc làm gì của giới hành chính cũng đều trở thành khoa học. Tuyên truyền do đó đánh tráo khái niệm bằng cách khái quát hóa một cách tùy tiện.

Đặc điểm thứ tư của tuyên truyền là lợi dụng thế lực. Tiếng Latin gọi là ad verecundiam. Trong xảo thuật này, cách làm phổ biến nhất là chuyển giao những hình ảnh quốc gia và nhân vật nổi tiếng đến sản phẩm tuyên truyền. Chẳng hạn như huy động hàng ngàn người mặc quần áo và đứng xếp hàng thành một lá cờ tổ quốc thật to. Thông điệp họ muốn gửi đến công chúng là họ là những người yêu nước, vì quê hương đất nước. Nhưng đó chỉ là hình thức tuyên truyền tương đối … rẻ tiền.

Một đặc điểm tuyên truyền khác có liên quan là lợi dụng thẩm quyền. Đây cũng là hình thức tuyên truyền khá phổ biến. Chẳng hạn như khi quảng bá một ý tưởng điên rồ khó ai có thể chấp nhận được, người ta dùng đến những người có vị trí cao và bằng cấp cao trong xã hội. Giống như khi viết bài, người ta trích dẫn những người với chức danh như “Giáo sư – Tiến sĩ” với hàm ý nói rằng ý tưởng đó được bậc đại trí thức đồng tình, dù ý kiến của vị đó chẳng liên quan gì đến vấn đề đang bàn. Trung Quốc thường hay trưng bày công hàm 1958 của cố thủ tướng Phạm Văn Đồng như muốn nói thủ tướng của Việt Nam đã công nhận, nhưng vấn đề là pháp lí quốc tế chứ chẳng liên quan gì đến công hàm đó.

Tuyên truyền nói cho cùng là một cách nhồi sọ. Do đó, xảo thuật của tuyên truyền là lặp đi lặp lại những điều vô lí càng nhiều và càng lâu thì càng tốt. Đó chính là lí tưởng của tuyên truyền: một lời nói láo nếu được lặp đi lặp lại nhiều lần sẽ trở thành chân lí. Đó cũng chính là những gì chúng ta thấy giới truyền thông Bắc Kinh suốt ngày này sang tháng nọ nói xấu Việt Nam và người Việt Nam, bất chấp những thỏa thuận gì đó giữa đặc phái viên của lãnh đạo cao cấp Việt Nam và phía Trung Quốc.

Tóm lại, tuyên truyền là một phương tiện để the power that be (có lẽ dịch là thế lực?) gây tác động đến đám đông qua hình thức ngụy biện và nhồi sọ. Goebbels, một guru về tuyên truyền thời Hitler, quan niệm rằng “tuyên truyền tự nó không phải là một cứu cánh, nhưng là phương tiện cho cứu cánh; nếu phương tiện giúp chúng ta đạt được cứu cánh thì phương tiện đó tốt.” Cố nhiên, tội ác của Hitler và đồng bọn như Goebbels đã làm cho hai chữ tuyên truyền mang một nghĩa xấu. Ấy thế mà ngày nay những đồ đệ của họ ở Trung Quốc có vẻ rất ham thích ứng dụng quan niệm đó của Goebbels. Chúng ta phải sống với tuyên truyền. Không có cách nào xóa bỏ tuyên truyền trong xã hội hiện đại. Vấn đề không phải là tránh hay xóa bỏ tuyên truyền, nhưng vấn đề là phân biệt được thông tin nào là sản phẩm của tuyên truyền và thông tin nào sản phẩm của thực tế xã hội. Tôi nghĩ những đặc điểm trên cũng giúp ích cho chúng ta trong việc phân định thông tin, và hiểu tại sao nhà cầm quyền Trung Quốc tỏ ra cực kì trơ trẽn với những luận điệu vừa vô lí vừa ấu trĩ của họ.

NVT

Ghi thêm: Một bạn đọc gửi thư cho tôi biết rằng hai chữ tuyên truyền rất phổ biến ở trong nước. Bạn này còn chứng minh rằng Việt Nam có hẳn một “Học viện báo chí và tuyên truyền”, nhưng dịch sang tiếng Anh là Academy of Journalism and Communication. Thú vị thật!

Về mặt tiếng Anh, tuyên truyền phải là propaganda, chứ không phải là communication. Communication có nghĩa là truyền thông (vì thế telecommunicationviễn thông). Như vậy, cách dịch tuyên truyền = communication rõ ràng là không đúng. Đó là một cách … né. Né không dùng chữ propaganda. Điều này cho thấy lãnh đạo học viện trên có ý thức rằng chữ propaganda không được cộng đồng quốc tế “mặn mà” lắm vào thời nay. Nhưng nếu có ý thức như thế thì tại sao lại dùng tuyên truyền trong tiếng Việt? Tại sao không dùng chữ truyền thông cho … nhẹ hàng hơn? Tôi nghĩ đó cũng là một câu hỏi thú vị cần giải đáp.

Theo Blog: http://nguyenvantuan.net/home

Trong các bản đồ mà chính người Trung Quốc vẽ hàng trăm năm trước chưa hề thấy xuất hiện tên gọi biển Nam Trung Hoa. Trung Quốc đã lợi dụng cách gọi tên của phương Tây để nhập nhằng “đường lưỡi bò” trên biển Đông. Trân trọng giới thiệu bài nghiên cứu của nhà sử học Nguyễn Đình Đầu.

Từ điển Bách khoa Việt Nam giải thích: Giao Chỉ là tên gọi do các triều đại phong kiến Trung Quốc dùng chỉ người và nước Việt Nam xưa. Thời Hùng Vương, Giao Chỉ là một trong 15 bộ của nước Văn Lang… Các triều đại phong kiến Trung Quốc sau này nhiều khi vẫn dùng tên Giao chỉ cũng như tên An Nam để chỉ quốc gia và nhân dân Đại Việt. Trong nhiều văn bản và bi ký, tên Giao Chỉ vẫn còn chỉ nước ta tới hết thế kỷ XIX.

Biển Giao Chỉ

Trên hai trang 11b và 12a trích từ sưu tập bản đồ Võ bị chí (ghi lại cuộc hành trình của Trịnh Hòa trong thời gian 1405-1433 đi từ Trung Quốc qua Ấn Độ dương tới Phi Châu) có vẽ nước ta tuy đơn giản nhưng cũng rõ ràng: Nước Giao Chỉ bắc giáp Khâm Châu Trung Quốc, nam giáp nước Chiêm Thành, đông giáp biển cả mang tên Giao Chỉ dương, tức biển của nước Giao Chỉ. Đây là tư liệu của Trung Hoa khắc vẽ về nước ta và biển cả thuộc về nước ta từ thế kỷ XV.

Năm 1842, tác giả người Trung Hoa – Ngụy Nguyên xuất bản sách Hải quốc đồ chí mô tả và khắc vẽ bản đồ tất cả các nước trên thế giới và toàn thể năm châu bốn bể, theo phương pháp khoa học với kinh tuyến và vĩ tuyến. Trong sách này, Ngụy Nguyên đã vẽ hai bản đồ về Việt Nam. Trong đó, bản đồ thứ nhất vẽ sơ sài, chia nước ta ra hai phần (Việt Nam Đông đô và Việt Nam Tây đô). Ở ngoài khơi phía đông hai phần Việt Nam, Ngụy Nguyên ghi rõ là Đông Dương đại hải, tức biển Đông rất lớn.

Bản đồ 1, nước Giao Chỉ với Giao Chỉ dương, trích từ bộ Võ bị chí. (Ảnh chụp lại từ tư liệu của nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu)
Bản đồ 1, nước Giao Chỉ với Giao Chỉ dương, trích từ bộ Võ bị chí. (Ảnh chụp lại từ tư liệu của nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu)
Cũng trong tác phẩm Hải quốc đồ chí, Ngụy Nguyên còn khắc vẽ bản đồ An Nam quốc với đường nét đúng kinh tuyến và vĩ tuyến rất rộng lớn. Ngoài khơi nước An Nam có ghi rõ Đông Nam hải, tức là biển Đông Nam.

Rõ ràng, hầu hết bản đồ Trung Hoa vẽ về Việt Nam từ thế kỷ XV hoặc trước nữa cho tới đầu thế kỷ XX đều ghi biển cả phía đông Việt Nam là Giao Chỉ dương hay Đông Dương đại hải hoặc Đông Nam hải, đều có nghĩa là biển của Giao chỉ (tức Việt Nam) hay đơn giản là biển Đông (của Việt Nam).

Việt Nam thực thi liên tục chủ quyền của mình

Như chúng ta biết, ít nhất từ đầu thế kỷ XVII Việt Nam đã thi hành chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ở giữa biển Đông một cách chính thức, liên tục và không hề thấy một quốc gia hay dân tộc nào đến khiếu nại hay tranh giành. Từ khi chiếm nước ta làm thuộc địa, Pháp đã nhân danh Việt Nam thi hành chủ quyền ấy đúng công pháp quốc tế. Pháp đã xây dựng hai trạm khí tượng theo hệ thống quốc tế trên đảo Hoàng Sa và đảo Ba Bình trong quần đảo Trường Sa.

Năm 1947, chính phủ Trung Hoa dân quốc đưa ra yêu sách về chủ quyền biển Đông theo “đường lưỡi bò gồm 11 khúc đứt đoạn”. Năm 1949, chính quyền Cộng hòa nhân dân Trung Hoa cũng yêu cầu tương tự nhưng không quyết liệt, quốc tế coi như làm ngơ. Ngày 14/10/1950, tại Hội nghị ký hòa ước San Francisco (Liên Hiệp Quốc), Thủ tướng Trần Văn Hữu của chính quyền Bảo Đại do Pháp bảo trợ đã tuyên bố: “Chúng tôi xác nhận chủ quyền đã có từ lâu đời của chúng tôi trên quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa”…

Bản đồ 3, An Nam quốc với biển Đông Nam hải, trích Hải quốc đồ chí. (Ảnh chụp lại từ tư liệu của Nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu)
Bản đồ 3, An Nam quốc với biển Đông Nam hải, trích Hải quốc đồ chí. (Ảnh chụp lại từ tư liệu của Nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu)
Những bước leo thang trên biển Đông

Ngày 15/1/1974, Trung Quốc đem quân đến đánh chiếm các đảo Hoàng Sa. Dưới thời của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, Trung Quốc đem thủy quân hùng hậu đánh chiếm một số đảo trong quần đảo Trường Sa của Việt Nam (năm 1988).

Ngày 21/2/1992, Trung Quốc ra quy định biển Đông thuộc lãnh hải tỉnh Hải Nam, theo bản đồ với những “đường cắt khúc chín đoạn” chiếm hầu hết biển Đông, thâu tóm cả Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Trung Quốc đã chính thức trình lên Liên Hiệp Quốc bản đồ “đường lưỡi bò” vào năm 2009. Việt Nam và các nước liên quan đã phản đối sự phi lý, không phù hợp với luật pháp quốc tế của “đường lưỡi bò” này.

Mấy tháng gần đầy, Trung Quốc ngang nhiên cấm đánh cá trên biển Đông, xâm phạm vào cả vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam. Gần đây nhất, Trung Quốc có hành động ngang ngược là gây hấn với các tàu thăm dò dầu khí hay các chương trình nghiên cứu khác về biển. Những hành vi gây hấn này được Trung Quốc tiến hành trong phạm vi “đường lưỡi bò”, mặc dù đường ranh giới này vi phạm Công ước quốc tế về Luật Biển 1982 của Liên Hiệp Quốc.

Phải khẳng định rằng những hành vi của Trung Quốc là sai trái, vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế, xâm phạm trắng trợn vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Việc gọi tên biển Nam Trung Hoa không có nghĩa đó là biển của Trung Quốc và Trung Quốc có quyền thực thi chủ quyền xâm phạm cả vào vùng biển của các nước khác được xác lập theo đúng Công ước quốc tế về luật biển 1982.

 

Chưa bao giờ bằng lúc này người Việt ta trong và ngoài nước cần tìm hiểu sâu sắc bản chất của chính quyền Đại Hán tại nước láng giềng phương Bắc trong mối quan hệ Việt-Trung từ ngàn xưa đến nay.

Bản chất lớn nhất của chính quyền Đại Hán là độc đoán bên trong và bành trướng xâm lược bên ngoài. Trong xâm lược bên ngoài, chúng lăm le nuốt chửng mọi nước láng giềng, tự nhận mình là trung tâm của thế giới, không giấu giếm ý đồ lâu dài là làm bá chủ thế giới bằng mọi cách. Chúng thôn tính một phần lớn Mông Cổ, toàn bộ Tân Cương, Tây Tạng, Mãn Châu, tiêu diệt quyền tự do, nền độc lập của các nước này, khẳng định láo xược cái tội cướp nước khác bằng lá cờ ô nhục một sao đỏ lớn nằm trên 4 ngôi sao nhỏ.

Sau khi thực hiện chiến tranh với Liên Xô mà chúng từng coi là người anh Cả trong phe Xã hội chủ nghĩa, với Ấn Độ là nước dân chủ lớn nhất ở châu Á, nhưng bị giáng trả và ngăn chặn, hiện nay Bắc Kinh mưu đồ bành trướng xuống phương Nam, ráo riết nô dịch hóa theo hình thức thuộc địa kiểu mới các nước Miến Điện, Việt Nam, Lào, Camuchia bằng những thủ đoạn từ lộ liễu đến tinh vi, từ hợp tác kinh tế, viện trợ kinh tế – tài chính – giáo dục – văn hóa, đẩy mạnh thương mại một chiều, làm đường xá, khai thác khoáng sản, năng lượng, cấy dân cư, đề xướng cư dân lân bang đi lại không hộ chiếu, cho đến thủ đoạn then chốt là mua chuộc nhóm lãnh đạo chính trị của các nước ấy bằng mọi cách thâm hiểm, hủ hóa bằng tiền, gái, rồi đe dọa khống chế bằng tình báo, tập trung vào nhóm lãnh đạo cao nhất, làm cho những người này tê liệt, mất khả năng phản ứng, há miệng mắc quai, vì đã trượt quá sâu vào trong quỹ đạo quy phục làm bộ hạ tay sai của chúng.

Trước tình hình hiện nay, trò 2 mặt trong đối phó với cuộc khủng hoảng biển Đông của Bộ Chính trị đảng CS Việt Nam – mà mặt chính là xoa dịu, nhún nhường – là rõ ràng. Nhóm lãnh đạo im thin thít, không biết ăn nói ra sao, kẹt cứng giữa 2 gọng kìm: nhân dân bất khuất và quan thầy nham hiểm.

Tình hình khốn khổ của nhóm lãnh đạo giữa cao trào chống xâm lược của toàn dân là hiển nhiên, làm kẻ thù thích chí.

Tình trạng bi đát này của nhóm lãnh đạo Việt Nam đã kéo dài từ 21 năm nay, khi cả hai chính quyền độc đảng Bắc Kinh và Hà Nội đều run sợ trước sự sụp đổ của bức tường Berlin và nhất là trước sự tan tành của Liên bang Xô viết và phe Xã hội chủ nghĩa, liền bắt tay nhau dù là mới trải qua cuộc «chiến tranh giữa 2 đồng chí thù địch» đầu năm 1979, để hòng cùng nhau trụ lại trước định mệnh đã an bài. Đó là bước ngoặt trong cuộc hội ngộ Việt – Trung ở Thành Đô – Tứ Xuyên cuối năm 1990, mà ông Nguyễn Cơ Thạch phải la hoảng lên là «một thời kỳ Bắc thuộc mới rất nguy hiểm đã bắt đầu» để lập tức bị mất chức ngoại trưởng kiêm phó thủ tướng, bị gạt khỏi chức ủy viên Bộ Chính trị. Thực chất Thành Đô là cái bẫy cực kỳ thâm hiểm mang bản chất Đại Hán mà một loạt kẻ lãnh đạo mù quáng, mất gốc dân tộc Việt đã dại dột chui vào.

Từ đó đẻ ra bao chuyện nhẹ dạ, hớ hênh, tội lỗi với dân với nước. Hai hiệp định bất bình đẳng, mất đất, mất đảo, mất biển, mất tài nguyên, tạo điều kiện cho lao động Trung Quốc tràn vào khắp mọi vùng, độc chiếm các món thầu béo bở nhất, từ mỏ bauxite đến hàng loạt nhà máy điện, giành vị trí lao động phổ thông của người Việt mặc cho luật pháp ngăn cấm. Lực lượng lao động này lập làng Trung Quốc ở Tây Nguyên, làm đường chiến lược, khai thác hàng chục vạn hécta rừng dọc biên giới và đầu nguồn. Đồng thời hàng giá rẻ kém chất lượng, chứa chất độc tràn ngập đất nước ta, đồng Nhân dân tệ bắt đầu khuynh đảo thị trường tài chính ngầm. Tai họa cực kỳ nguy cấp hiển hiện, rình rập khắp nơi. Các nhà trí thức – kẻ sỹ dân tộc nhận rõ và báo động, tuổi trẻ xuống đường bền bỉ, nông dân, lao động, nhà kinh doanh chân chính đã lên tiếng, chỉ có lãnh đạo cao nhất là im hơi lặng tiếng, vẫn phải ôm chặt 16 chữ vàng – mà dân gian cho là “vàng khè, vàng giả”.

Nhiều báo chí công khai – trừ 2 tờ Nhân dân và Quân đội Nhân dân – lên tiếng mạnh mẽ vạch mặt nham hiểm, tiểu nhân của nước lớn mà tư cách nhỏ, gây sự trong vùng biển của ta rồi lu loa đòi ta phải đi nơi khác, mưu đồ biến vùng biển của ta thành vùng tranh chấp, còn ngang ngựơc đòi Hoa Kỳ không được xía vào vùng biển của họ. Họ gây sự liên tiếp ở sâu trong vùng biển của ta rồi láo xược đòi đánh cho ta vỡ mặt, đòi dạy cho ta một bài học lớn hơn hồi 1979.

Không ai hiểu sâu sắc bản chất đê tiện, tham lam, nham hiểm kiểu thâm nho của lãnh đạo Đại Hán bằng 2 nhân vật trong nước đang dõng dạc cất tiếng với toàn dân là lão tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, từng làm đại sứ Việt Nam tại Bắc Kinh. và ông Dương Danh Dy. từng là Tổng lãnh sự Việt Nam tại Quảng Châu, Trung Quốc.

Tôi xin góp một dẫn chứng nhỏ nhưng sống động làm bằng. Hồi 1951 khi tôi phụ trách trường đạo tạo sỹ quan sơ cấp của Sư đoàn 304 đóng ở Thanh Hóa, một cố vấn Trung Quốc cấp Dinh (tiểu đoàn) được phái đến trường, gọi là đồng chí Triệu. Lúc nào anh ta cũng nói nhũn như con chi chi: «Mao chủ tịch phái chúng tôi đến giúp, nhưng chính là để học tập các đồng chí.

Chúng tôi không am hiểu kẻ thù, không am hiểu chiến trường, ý kiến còn thô thiển, chủ quan, mong các đồng chí tuỳ nghi lựa chọn và lượng thứ cho». Nhưng bất kỳ ý kiến lớn nhỏ nào của anh ta mà chưa kịp thi hành anh ta tâu ngay lên thượng cấp để xử lý rất găng. Sinh hoạt cũng vậy. Anh ta ăn riêng có thịt, có cá, có rượu bổ, lại có ngựa cưỡi, có 3 người phục vụ: 1 cần vụ, 1 giám mã, 1 bảo vệ, đi thao trường về là nằm ngửa có cần vụ bưng nước ấm đến để ngâm chân và xoa bóp, nhưng lại luôn hát: chúng ta là con em nhân dân trăm họ, luôn sống giản dị trong lòng dân, hết lòng phục vụ nhân dân, luôn nhường cơm xẻ áo cho dân …

Nói một đằng làm một nẻo là thế. Cả một nếp sống, một nền văn hóa giả dối như thế.

Do bàn chất Đại Hán xảo quyệt thâm nho như thế nên tất cả vấn đề hiện nay là liệu 14 vị lãnh đạo trên cao nhất nắm quyền cai trị đất nước này đã hiểu sâu, hiểu rõ bản chất bành trướng cao ngạo cực kỳ thâm độc Đại Hán hay chưa? và từ đó tỉnh ngộ trước khi đã quá muộn, khi sự uất hận chính đáng của toàn dân với tai họa bành trướng sẽ tất yếu bùng nổ xung thiên. Cần dũng cảm quyết đoán, gỡ từng mối, từng nút, từ toàn vẹn lãnh thổ, vùng biển, hải đảo quốc gia, từ khai thác tài nguyên biển, bảo vệ ngư dân ta, giải trừ tai họa bauxite, tai họa nhượng quyền khai thác rừng, ngăn chặn hàng phi pháp tràn qua biên giới, đến sáng suốt nắm thời cơ này xoay chuyển hẳn đường lối đối ngoại, tìm hàng loạt bạn đáng tin cậy để kết thân, và kịp thời đưa hẳn vấn đề ra trước Liên Hiệp Quốc, khi cần ra cả Tòa án quốc tế về biển…

Hãy nhớ trong Chiến tranh thế giới II Hoa Kỳ với nước Đức và Nhật Bản là những kẻ tử thù, thế mà nay kết liên minh bền chặt nhất. Từ xa xưa Pháp – Đức coi nhau là kẻ thù truyền kiếp, kẻ thù vĩnh cửu, vậy mà nay 2 nước Pháp – Đức là trục liên minh vững bền làm nòng cốt cho Liên hiệp châu Âu, nâng sức mạnh của mỗi dân tộc, mỗi nước lên tầm cao mới.

Thực hiện dân chủ trong nước một cách mạnh dạn, quả đoán, trong niềm tin ở nhân dân, thắt chặt liên minh mới về mọi mặt với tất cả các nước dân chủ trên thế giới, đó là con đường sáng duy nhất, là mệnh lệnh của tình thế, là lời kêu gọi của thời đại, là đòi hỏi cấp bách trong sáng của nhân dân, của dân tộc Việt Nam oai hùng, một dân tộc xứng đáng với cuộc sống khác, một cuộc sống thật sự độc lập, tự do, bình đẳng, công bằng và hạnh phúc.

Mong rằng 14 vị trên đỉnh cao lắng nghe thật rõ, thật thấu đáo những tiếng nói của thường dân, giữa những mưu đồ cực kỳ hung hãn bất nhân của thế lực xâm lược Đại Hán

Theo Blog Bùi Tín (VOA)

1. Chính trị ở Đài Loan: Từ năm 1979, trên thực tế là khi Washington – Bắc Kinh mặc cả sau lưng thì dù được Quốc hội Mỹ trấn an bằng cách thông qua Đạo Luật Quan hệ Đài Loan, nhưng Đài Bắc bắt đầu biết mình, biết ta. Dĩ nhiên, ở lãnh thổ này thì ý tưởng li khai lúc đó vẫn rất mạnh mẽ. Nhưng dần dần, đã có những thay đổi quan trọng. Thứ nhất, việc Hongkong được trao trả về Trung Quốc trong mô hình “một nhà nước, hai chế độ” êm đẹp, thuyết phục người dân Đài Loan vào một tương lai tương tự. Thứ hai, ưu thế quân sự của Trung Quốc đã lên tới mức ước tính là Đài Loan chỉ có khả năng cầm cự trong vòng 1 tuần nếu xảy ra chiến tranh mà không có ngoại viện. Và thứ ba là những thành quả kinh tế của Trung Quốc và vị thế trên thế giới cho thấy việc quay lại với “đất mẹ” cũng không đến nỗi tệ. Cho nên, dù chính trị Đài Loan vẫn đang bị xâu xé bởi các xu hương ly khai và thống nhất, các bên liên quan vẫn tích cực tác động để tìm cách giữ nguyên hiện trạng, nhưng về lâu dài thì có vẻ như tương lai “một đất nước” là khá chắc chắn. 2. Việt Nam trên bàn cờ khu vực: Tương lai này khiến cho mọi quốc gia trong vùng hay có quyền lợi trong vùng buộc phải có động thái chuẩn bị. Đầu tiên là Nhật Bản. Từ trước đến nay, Trung Quốc vẫn không công nhận chủ quyền quần đảo Ryuku và Okinawa của Nhật vốn là một mối lo, nay khả năng những con đường hàng hải huyết mạch đi qua Đài Loan đến Nhật Bản thuộc quyền kiểm soát của Trung Quốc lại càng khiến Nhật lo ngại hơn. Cho nên, từ năm 2000, Nhật bắt đầu tái vũ trang, và gần đây nâng Cục Phòng vệ Nhật Bản thành Bộ Quốc Phòng. Song song đó, Nhật triển khai chiến lược ngoại giao mới, tìm cách thắt chặt hơn nữa quan hệ với ASEAN mà đặc biệt chú trọng Việt Nam. Sau Nhật dĩ nhiên là Mỹ. Hiện Mỹ đang sa vào tình thế vừa phụ thuộc, lại vừa phải dè chừng Trung Quốc, và Trung Quốc đang trở thành mối quan tâm chính yếu của Mỹ. Cho nên, Mỹ vẫn phải duy trì chiến lược kìm toả Trung Quốc suốt nhiều thập kỷ qua, để có thể sử dụng nó làm một quân bài mặc cả khi cần thiết. Chiến lược này chắc chắn không thay đổi về bản chất quan hệ hai nước, cho dù ngoài mặt Mỹ đôi lúc thể hiện như “không quan tâm” và “không có nhiều lợi ích trong vùng”. Một mặt khác, bản thân Nhật và Mỹ lại có quan hệ đồng minh thân thiết với những ràng buộc quyền lợi bên ngoài chiến lược chung với Trung Quốc. Cho nên, duy trì thành công chiến lược kìm toả Trung Quốc cũng nằm trong ý đồ bảo đảm an ninh cho đồng minh quan trọng này. Vì thế, vì vị trí địa lý đặc biệt của mình, hầu như đương nhiên Việt Nam được Mỹ lựa chọn làm ứng viên cho vị trí mà Đài Loan đang nắm giữ. 3. Việt Nam trên bàn cờ Trung Quốc: Kể từ ngày đuổi được Quốc Dân Đảng chạy ra Đài Loan, thì Trung Quốc luôn bị áp chế trong thế kìm toả: Phía Đông Bắc là Nam Hàn, phía Đông là Nhật Bản, phía Đông Nam là Đài Loan và phía Nam là Việt Nam. Vì thế, một cách hoàn toàn tự nhiên là họ phải tìm cách phá thế kìm toả ở các mặt này. Từ đặc điểm địa lý cũng sẽ đi đến kết luận tương tự. Trung Quốc có diện tích đất đến hơn 6 triệu km2. Mặt Bắc và Tây giáp với Mông Cổ, Nga, Ấn Độ với những địa hình khó khăn cho giao thương, thuận lợi cho phòng thủ. Với việc chiếm lấy Tân Cương, Trung Quốc coi như đã loại trừ mối đe doạ từ phía Ấn Độ. Và Nga thì Trung Quốc không phải lo lắng nhiều, do Nga có điểm yếu cố hữu là mặt Tây hoàn toàn trống trải lại đang bị thu hẹp biên giới, mặt khác sinh suất của Nga quá thấp nên chẳng mấy chốc mà Nga không còn đủ dân để sống và bảo vệ đất nước rộng lớn của mình. Ở mặt Đông Bắc với Hàn Quốc là đồng minh thân cận của Mỹ, thì chắc chắn Trung Quốc sẽ tìm cách duy trì Bắc Triều Tiên như một vùng đệm. Nhất là khi Bắc Triều Tiên đã có vũ khí hạt nhân, thì Trung Quốc càng không muốn nhìn thấy một bán đảo Triều Tiên thống nhất, thân Mỹ và có vũ khí hạt nhân. Nên nỗ lực của Trung Quốc ở khu vực này cũng là dễ hiểu. Như vậy, vấn đề còn lại là hai mặt Đông và Nam. Về kinh tế, mặt Đông quan trọng vì nó liên quan đến giao thương qua Thái Bình Dương. Còn mặt Nam quan trọng vì đấy là con đường giao thương qua Ấn Độ Dương. Đường hàng hải phía Nam còn là con đường dầu mỏ từ Châu Phi – Trung Đông về, nên nó chính là huyết mạch an toàn năng lượng của Trung Quốc. Kiểm soát được hai mặt này là vừa bảo đảm quốc phòng, vừa bảo đảm cho tương lai của nền kinh tế. Chính vì thế, mà tất yếu Trung Quốc phải đầu tư vào hải quân với chiến lược Đại dương Xanh của mình. Và Việt Nam cùng với Biển Đông là một vị trí quan trọng tất yếu trong chiến lược đó, mà hành xử của Việt Nam trong tương quan với Mỹ sẽ quyết định thái độ ứng xử của Trung Quốc. 4. Việt Nam trên bàn cờ lớn Trung – Mỹ: Trong quan hệ Trung – Mỹ từ năm 1949 tới nay, ba yếu tố: đối đầu, hoà hoãn và hợp tác đan xen với nhau. Ngay cả khi một yếu tố nổi lên làm chủ đạo, thì vẫn có mặt một hoặc cả hai yếu tố kia. Xét tính chủ đạo, thì giai đoạn 1949-1972 đối đầu, 72-79 là đối đầu có hoà hoãn, từ năm 1979 đến 1990 là hoà hoãn có hợp tác. Thập niên 1990 là hợp tác trong hoà hoãn, và từ những năm 2000 đến nay, khi Trung Quốc hiện đại hoá quân đội và hải quân, thì yếu tố đồi đầu đang từ từ mạnh lên. Vị trí của Việt Nam trên bàn cờ lớn này đương nhiên là liên quan mật thiết đến xu hướng nào là chủ đạo, và chiếm thế chủ đạo trong trong giai đoạn nào. Trước hết, cần phải nói rằng xét về lịch sử, bất chấp ai lãnh đạo thì nhìn chung cả Trung Quốc và Mỹ đều là những tay chơi cờ xuất sắc và khá kiên nhẫn. Thứ hai, bàn cờ quốc tế hiện đại nảy sinh ra những ràng buộc quyền lợi chung đa dạng. Một mặt khác, trình độ kinh tế đương nhiên là có ảnh hưởng quyết định đến quan hệ này theo quy tắc: Trung Quốc yếu thì hợp tác là chủ đạo, Trung Quốc mạnh lên thì sẽ tất yếu có đối đầu để tái phân chia ảnh hưởng trên khu vực và trên toàn cầu. Cho nên, thái độ và hành xử của hai nước này trong nhiều thập kỷ tới hầu như chắc chắn vẫn là hoà hoãn có đối đầu. Trong tình hình đó, hành xử của Trung Quốc đối với Việt Nam sẽ đi theo một trong các kịch bản sau: 1. Nếu Việt Nam ngả theo hướng thân Mỹ, thì tất Trung Quốc buộc phải chiếm Trường Sa bằng vũ lực. 2. Nếu Việt Nam cũng chọn thái độ hoà hoãn, thì Trung Quốc sẽ tìm mọi cách đưa Việt Nam và vòng ảnh hưởng của mình. Trong mọi tình huống, lựa chọn thái độ hợp tác với Việt Nam hầu như nằm ngoài dự tính của Trung Quốc. Điều này xuất phát từ nhận định của Trung Quốc về Việt Nam, rằng vị thế của hai nước từ trong lịch sử và mãi mãi là ở vị thế tranh chấp, và Việt Nam chưa bao giờ là một đồng minh hay đàn em đáng tin cậy cả. Cho nên, ngay cả lựa chọn thái độ hoà hoãn, thì Trung Quốc cũng tin chắc rằng hoà hoãn chỉ là nhất thời mà thôi. Từ góc nhìn của Mỹ, thì để bảo đảm cho chiến lược kìm toả Trung Quốc của mình không bị vỡ, thì phải giữ cho được mục tiêu là Trung Quốc không khống chế được Việt Nam và không chiếm được Trường Sa. Đương nhiên, người Mỹ biết rõ về lịch sử đẫm máu của hai quốc gia này và những gì cả hai nghĩ về nhau, nên họ tin rằng họ luôn có cơ hội ở Việt Nam khi họ muốn. Tuy nhiên, những cân nhắc về quyền lợi của họ ở Việt Nam thì luôn gắn với cân nhắc về thể chế. Cho nên, các kịch bản tương ứng của họ sẽ là: 1) Tìm cách giữ nguyên trạng tình hình chính trị ở Đài Loan càng lâu càng tốt, ngoài những lý do liên quan đến Đài Loan- Mỹ, thì còn vì họ cho rằng Việt Nam chưa sẵn sàng để làm bạn với Mỹ, đồng thời bản thân họ cũng chưa vào thế kẹt để chấp nhận làm bạn với Việt Nam. Trong việc này, hiển nhiên họ phải đối mặt với rủi ro là Trung Quốc có thể bất ngờ tấn công Trường Sa, loại bỏ vai trò chiến lược của Việt Nam đối với thế kìm toả của Mỹ. Cho nên, để có thể giúp Việt Nam bảo vệ Trường Sa lúc chưa có một hiệp ước chính thức, Mỹ sẽ hành xử theo 3 điểm như sau: a) Khuyến khích Việt Nam tham gia vào các cơ chế đa phương và hỗ trợ cho các cơ chế này. b) Một mặt khác, họ có vài động tác hỗ trợ quân sự cho Việt Nam để hãm bớt những toan tính của Trung Quốc. c) Xây dựng những quan hệ lợi ích cơ bản, nhằm dự phòng làm tiền đề cho quan hệ gần gũi hơn sau này. 2) Trường hợp Đài Loan chắc chắn về với Trung Quốc thì buộc Mỹ vào thế phải làm bạn với Việt Nam, và chắc chắn là Mỹ phải có những động thái sớm nhất có thể, nhằm loại bỏ nguy cơ Trung Quốc bất ngờ chiếm Trường Sa. Để làm động thái này, có lẽ trước đó Mỹ phải chuẩn bị cho Việt Nam vào trong một cơ chế đa phương hay một cơ chế kinh tế nào đó của mình (cũng có thể chỉ là một liên doanh khai thác dầu khí) để có thể danh chính ngôn thuận triển khai Hải quân ở khu vực Biển Đông. 3) Trường hợp Việt Nam lựa chọn đường lối thân Trung Quốc: Dĩ nhiên với Mỹ đây là lựa chọn xấu nhất có thể, vì trong trường hợp này họ buộc phải tìm cách can thiệp tích cực vào tình hình chính trị của Việt Nam, với suy nghĩ đương nhiên rằng một chính quyền dân chủ ở Việt Nam sẽ phụ thuộc vào Mỹ, ít nhất cũng phải thân Mỹ. Cho nên, ngay trong lúc này, Mỹ vẫn phải chơi ván bài hai mặt với Việt Nam: một mặt là xích lại gần hơn với Việt Nam hiện tại, một mặt kia là lựa chọn và ủng hộ cho phong trào dân chủ nhằm dự phòng cho phương án 3 trên đây. NHỮNG LỰA CHỌN CỦA LÃNH ĐẠO VIỆT NAM Có thể nói hiện tại lãnh đạo Việt Nam đang phải đối mặt với những nguy cơ như sau: Nguy cơ mất lãnh thổ từ phía Trung Quốc: Vì Trường Sa quá quan trọng đối với chiến lược Đại dương Xanh của Trung Quốc, nên việc lấy Trường Sa chỉ là vấn đề “bằng cách nào”, trong cân nhắc với quan hệ Việt – Mỹ và thể diện quốc tế của chính mình. Cho nên, hành xử của Trung Quốc sẽ đi theo một trong 3 sách lược như sau: 1. Thượng sách: Gây sức ép nặng nề lên Việt Nam để đạt mục tiêu chia sẻ quyền khai thác dầu ở Trường Sa, và sau đó sẽ tính đường chiếm đoạt một phần hoặc toàn phần quần đảo này một cách hoà bình (Biện pháp này từng được thảo luận như là giải pháp lâu dài cho Trường Sa, nhưng thực chất là con đường cực kỳ nguy hiểm cho Việt Nam) 2. Trung sách: Nếu Việt Nam có ý ngả sang Mỹ, hoặc nội bộ Việt Nam có vấn đề, thì ngay lập tức chiếm đoạt Trường Sa bằng vũ lực trong điều kiện Mỹ chưa có lý do chính đáng để triển khai Hải quân ở Biển Đông (Trung Quốc sẵn sàng làm điều này nếu tin tưởng rằng việc chiếm Trường Sa hoàn thành trong vòng vài ngày). 3. Hạ sách: Giải quyết vấn đề Trường Sa trong tổng thể bàn cờ tay đôi với Mỹ bằng cách vừa tăng cường ảnh hưởng lên nền tài chính của Mỹ, vừa tích cực chạy đua hải quân với Mỹ nếu như Mỹ kịp thời có mặt ở Biển Đông (Mỹ phải dàn trải lực lượng khắp các đại dương, nên Trung Quốc có khả năng giành ưu thế cục bộ trong khu vực Biển Đông). Trong 3 sách lược đó, hiện tại Trug Quốc có vẻ như đang áp dụng thượng sách, nhưng luôn phải quan sát phán đoán thời điểm để sẵn sàng chuyển qua trung sách. Nguy cơ thay đổi chính trị từ phía Mỹ: Đối với Mỹ, việc cải thiện tình hình dân chủ ở Việt Nam là cần thiết, nhưng được đặt trong bài toán về vai trò của Việt Nam trong cân nhắc quyền lợi của mình theo các trường hợp như sau: 1. Trường hợp bức bách: Khi Việt Nam vẫn giữ thái độ chưa rõ ràng và thời gian Đài Loan về với Trung Quốc là cận kề, hoặc khả năng Trung Quốc sử dụng trung sách cao, thì Mỹ vào thế phải giành lấy ảnh hưởng ở Việt Nam bằng mọi giá, trong đó có thể có cam đoan không can thiệp vào tình hình chính trị của Việt Nam. 2. Trường hợp hoà hoãn: Khi Việt Nam giữ thái độ chưa rõ ràng và tình hình Đài Loan cho phép, hoặc Việt Nam có một vị thế hoà hoãn tương đối với Trung Quốc, Mỹ sẽ chỉ tác động nhẹ đến tình hình chính trị bằng hình thức ngoại giao, song song với ủng hộ ngầm cho các phong trào dân chủ. 3. Trường hợp xấu nhất: Khi Việt Nam bộc lộ thái độ ngả về Trung Quốc, thì dĩ nhiên Mỹ buộc phải can thiệp tích cực vào tình hình chính trị ở Việt Nam. Lựa chọn khả dĩ của Việt Nam: Phân tích nguy cơ từ phía Trung Quốc thì rõ ràng là lãnh đạo Việt Nam không có nhiều lựa chọn – ngay khi khả năng chia sẻ tài nguyên Trường Sa vừa ló dạng, thì chắc chắn Mỹ sẽ chọn phương án hành xử thứ ba, và khả năng xấu nhất là nội bộ ban lãnh đạo bị chia rẽ. Kết hợp cả khả năng Trung Quốc sẽ lợi dụng đục nước béo cò, thì đây sẽ là lựa chọn khó có khả năng xảy ra. Cho nên, các nước cờ của lãnh đạo Nhà nước có thể sẽ là: 1. Kéo dài trạng thái hoà hoãn: Mục tiêu của nước cờ này là một mặt thuyết phục Trung Quốc không sử dụng trung sách, một mặt chờ cho tình hình Đài Loan rõ ràng hơn (để trở nên quan trọng hơn), nhằm giành ưu thế khi nói chuyện với Mỹ. 2. Tìm kiếm sự bảo vệ an ninh của Mỹ ở Biển Đông: Khi nguy cơ Trung Quốc sử dụng trung sách khá rõ ràng, thì Việt Nam buộc phải bắt tay chia sẻ khai thác Trường Sa với Mỹ, để Mỹ có thể danh chính ngôn thuận triển khai Hải quân ở đây. Đương nhiên, đây là việc cực kỳ nhạy cảm với Trung Quốc, nên Việt Nam buộc phải đi nhiều nước cờ nghi binh phức tạp. 3. Chọn thời điểm đàm phán với Mỹ: Việc chọn đúng thời điểm đàm phán là tối quan trọng để cân đối được lợi ích toàn vẹn lãnh thổ với lợi ích chính trị của Việt Nam. Ứng với sách lược như trên, thì những biện pháp tiên quyết hiện tại phải là: – Giữ ổn định chính trị trong nước: Đây là điều kiện căn bản nhằm tránh Trung Quốc đục nước béo cò. – Nhượng bộ Trung Quốc một số điểm ít quan trọng chiến lược hơn trong điều kiện Trung Quốc gây áp lực mạnh về phương án chia sẻ khai thác Trường Sa. – Tiếp tục tăng cường phòng thủ Biển Đông cùng với các biện pháp ngoại giao tích cực khác (trong đó có cả ngoại giao quân sự với Mỹ) nhằm tạo cảm giác khó khăn cho Trung Quốc. ĐE DOẠ BÊN NGOÀI CÓ THỂ CHUYỂN THÀNH BÊN TRONG NHƯ THẾ NÀO? 1. Nền tảng ủng hộ của người dân dành cho thể chế: Về cơ bản, thể chế XHCN ở Việt Nam hiện đại bắt đầu từ một phong trào giải phóng dân tộc, và có thể nói rằng, nền tảng ủng hộ của người dân dành cho phong trào này từng thời kỳ có thể tóm tắt như sau : – Từ 1930 – CMT8: Độc lập dân tộc – Từ CMT8 – 1975: Độc lập dân tộc + lý tưởng XHCN – Từ 1975 – 1990: Lý tưởng XHCN + ổn định chính trị – Từ 1990 – nay: Ổn định chính trị + phát triển kinh tế Từ khi Liên Xô và khối XHCN sụp đổ, thì cái nhìn mơ hồ về một lý tưởng XHCN được xây dựng trong suốt thời kỳ trước đó không còn cơ sở thực tế để tồn tại. Trong suốt thời kỳ này (đoạn này bị cắt bỏ so với bản gốc) mặc dù Đảng CSVN đã rất cố gắng tìm kiếm một tầm nhìn mới để tìm lại sự ủng hộ của người dân trước đó, tuy nhiên, thành công hầu như duy nhất của Đảng CSVN tạo dựng được về mặt tuyên truyền là “Sự lãnh đạo của Đảng là thành tố cơ bản cho sự ổn định chính trị, là tiền đề cho việc phát triển kinh tế”. Song song với luận đề này, thì các yếu tố đa nguyên, dân chủ, dân quyền được tuyên truyền như là các yếu tố gây bất ổn, còn các phong trào đòi hỏi những giá trị này được đánh giá là “phản động”. Và thể chế không ngần ngại trong việc sử dụng sức mạnh chuyên chế, vì nhận định rằng nếu không hành động như thế thì sẽ mất ủng hộ của người dân. Từ phía người dân, họ chuyển sự quan tâm của mình đến những nhu cầu cấp bách hơn của cuộc sống và trở nên xa lạ với chính trị, hoặc chỉ đơn giản là chấp nhận cách lý giải đó. Và ổn định xã hội trở thành giá trị cốt lõi của thể chế. Thế nhưng, dưới những tác động của các nguy cơ đến từ bên ngoài như đã phân tích, thì giá trị này có nguy cơ bị phá vỡ. 2. Đe doạ mất lãnh thổ có tác động như thế nào? Một cách hoàn toàn tự nhiên, người Việt Nam có tinh thần dân tộc chủ nghĩa rất cao, cho nên nguy cơ mất lãnh thổ hoặc những áp lực từ phía nguy cơ này sẽ nhanh chóng được diễn dịch thành sự bất ổn từ hai hướng: – Những hành động hay chính sách mang xu hướng nhân nhượng hay thoả hiệp đối với Trung Quốc đều có khả năng được diễn dịch trực tiếp thành sự suy thoái lòng tin, bắt đầu từ lòng tin về khả năng lãnh đạo nói chung và khả năng giữ ổn định nói riêng. – Bản thân giới lãnh đạo ở các cấp cũng có khả năng phân hoá thành những nhóm chủ trương khác nhau, và khi áp lực càng tăng thì sự phân nhóm càng rõ rệt hơn và có thể biến thành những tín hiệu bất ổn. Cả hai yếu tố này nếu kết hợp lại, thì sẽ làm suy yếu giá trị cơ bản của thể chế và do đó, nếu cộng hưởng lại sẽ có tác động rất nguy hiểm. 3. Đe doạ thay đổi chính trị tác động như thế nào? Mặc dù sự can thiệp chính trị từ phía Mỹ vẫn có thể được coi là yếu tố bất ổn trong ngắn hạn, nhưng cái lợi có được – an ninh lãnh thổ nhờ quan hệ với Mỹ – lại là yếu tố ổn định. Nên khi áp lực từ nguy cơ mất lãnh thổ tăng lên, thì trong ý thức người dân xu hướng chấp nhận đánh đổi yếu tố bất ổn từ chính trị để đổi lấy ổn định nhờ an ninh lại tăng lên (đoạn này bị cắt bỏ so với bản gốc). Một khía cạnh khác, trong giá trị cốt lõi của thể chế, sự phát triển về kinh tế là mục tiêu, còn giữ ổn định là phương thức. Mà với tiềm lực kinh tế của Mỹ, với những hình mẫu của Nhật Bản và Hàn Quốc trong quan hệ với Mỹ, qua lăng kính của người dân được diễn dịch dễ dàng thành cơ hội phát triển. Cho nên, khi nhìn thấy sự quan tâm trở lại của Mỹ, sự hấp dẫn của cơ hội có thể vượt qua sự e ngại về bất ổn trong ngắn hạn. Một điểm khác nữa, bản thân xã hội Mỹ và nền kinh tế Mỹ có một sức hấp dẫn lớn. Cho nên sự công nhận từ phía Mỹ đối với các yếu tố đa nguyên, dân chủ sẽ có vai trò phản tuyên truyền, giúp làm nhẹ bớt cách nhìn về chúng như là “yếu tố bất ổn”. Từ hai mô hình phân tích trên đây, thì chúng ta có thể thấy một số vấn đề: – Áp lực từ phía Trung Quốc làm suy thoái giá trị ổn định của thế chế, làm lực đẩy hướng đến thay đổi. – Những cái lợi từ phía quan hệ với Mỹ tạo ra ý niệm khác về sự ổn định, là lực đẩy hướng đến sự thay đổi. Khi các xu thế này kết hợp đủ mạnh, thì nó hoàn toàn có khả năng tạo ra sự sụp đổ hoàn toàn của nền tảng ủng hộ, và nếu song song đó xuất hiện một lựa chọn nội bộ nào đó có khả năng đem lại ổn định, thì một “cửa sổ cơ hội” cho sự thay đổi có thể xuất hiện.

Theo: x-cafevn.org

Cập nhật lúc :10:30 AM, 29/06/2011
<!–Đất Việt - –>Theo chính sử Trung Hoa, trong suốt 22 thế kỷ, từ các đời Tần, Hán đến sau Thế chiến thứ II, không thấy tài liệu nào, hay nói rõ hơn, không có câu chữ nào ghi rằng Biển Đông (Trung Quốc gọi là Biển Nam Trung Hoa) với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (Trung Quốc gọi là Tây Sa và Nam Sa) thuộc chủ quyền của Trung Quốc.

Trong khi đó, không ít thư tịch cổ Trung Hoa, do chính người Trung Hoa ghi lại trong lịch sử đã thừa nhận Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam.

Một tài liệu đáng tin cậy về chính sử Trung Hoa là cuốn “Lịch sử Trung Quốc thời trung cổ” do Hàn Lâm Viện Trung Quốc xuất bản tại Đài Bắc năm 1978, học giả Hsieh Chiao-Min trong bài “Nghiên cứu về lịch sử và địa lý” nhận định về cuộc thám hiểm của Trung Hoa tại đại dương như sau: “Suốt chiều dài lịch sử, về sự phát triển văn hóa và khoa học, dân tộc Trung Hoa không tha thiết với đại dương”. Theo các tài liệu lịch sử chính thống “thảng hoặc triều đình Trung Hoa cũng gửi những đoàn thám hiểm đến Nhật Bản trong các thế kỷ thứ III và thứ II (TCN) và tại Đông Nam Á, Ấn Độ, Ba Tư và Phi Châu trong thế kỷ XV. Điểm rõ nét nhất là tại Thái Bình Dương có rất ít, nếu không nói là không có, những vụ xâm nhập quy mô của Trung Hoa” suốt chiều dài lịch sử (từ đời nhà Tần thế kỷ thứ III TCN đến nhà Thanh từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XX).

Dưới đời nhà Minh, Minh Thành Tổ cử Đô đốc Thái Giám Trịnh Hòa chỉ huy những đoàn thám hiểm đến Ấn Độ Dương và Biển Ả Rập nhằm thiết lập bang giao với trên 30 quốc gia duyên hải, triển khai Con đường Tơ Lụa tại Ấn Độ, Phi Châu và Trung Đông. Những chuyến hải hành của phái bộ Trịnh Hòa không phải để chinh phục Biển Đông nơi có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trên thực tế đoàn thuyền chỉ đi ngang qua Biển Đông nhằm khai phá Ấn Độ Dương. Trạm trú chân duy nhất của đoàn trong khu vực này là Đồ Bàn (Chaban) thủ phủ Chiêm Thành bấy giờ. Sau khi Minh Thành Tổ mất, triều đình nhà Minh đã phê phán những cuộc hải trình nặng phần trình diễn của Trịnh Hòa đã góp phần làm suy yếu nền kinh tế quốc gia.

Sử gia Triệu Nhữ Quát đời nhà Tống trong cuốn Chư Phiên Chí đã xác nhận nhiều sự kiện lịch sử quan trọng từ thời nhà Hán. Theo đó, năm 111 TCN, sau khi thôn tính Nam Việt “Hán Vũ Đế sai quân vượt biển sang chiếm đất của địch quân (Nam Việt) và đặt ra 2 quận Châu Nhai và Đạm Nhĩ (đảo Hải Nam). Trong thế kỷ thứ I TCN, Hán Nguyên Đế đã rút quân khỏi đảo Hải Nam. Mãi tới đời nhà Lương và nhà Tùy (cuối thế kỷ thứ VI đầu thế kỷ thứ VII) mới đặt lại quyền cai trị”. Triệu Nhữ Quát cũng cho biết vùng quần đảo Hoàng Sa (Vạn Lý Trường Sa) là nơi nguy hiểm, tàu thuyền Trung Hoa không nên đến gần vì chỉ đi sai một tí là có thể chìm đắm. Nhan đề sách là Chư Phiên Chí, có nghĩa là chép chuyện các phiên quốc, nước ngoài. Vạn Lý Trường Sa nằm ở phiên quốc, có nghĩa là không thuộc về Trung Hoa mà thuộc về phiên quốc Nam Việt. Như vậy, biên giới trên Biển Đông của Trung Hoa vào đời nhà Hán chỉ tới đảo Hải Nam.

 

Một trang trong cuốn Hải Ngoại Kỷ Sự (1695) của Thích Đại Sán, một nhà sư Trung Quốc đời Khang Hy, thuật lại chuyến du hành tới xứ Đàng Trong, thừa nhận chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Đại Việt.

Đời nhà Đường có sách Đường Thư Nghệ Văn Chí đề cập tới cuốn Giao Châu Dị Vật Chí của Dương Phu chép những chuyện kỳ dị và những nơi kỳ dị tại Giao Châu (Việt Nam). Sách này chép, tại Thất Châu Dương (nhóm An Vĩnh, quần đảo Hoàng Sa) là nơi có nhiều đá nam châm khiến các thuyền ngoại dương có đóng chốt sắt đi qua không được. Điều này đã khẳng định quần đảo Hoàng Sa thuộc về Giao Châu xưa (nay là Việt Nam). Trong đời Nam Tống, cuốn Lĩnh Ngoại Đại Đáp của Châu Khứ Phi cũng xác nhận: “Vạn Lý Trường Sa (Hoàng Sa) tọa lạc tại Giao Chỉ Dương”. Chư Phiên Đồ đời Tống cũng xác định giới hạn lãnh thổ của Trung Quốc với các nước khác ở Giao Dương (tức Giao Chỉ Dương). Giao Chỉ Dương hay Biển Giao Chỉ là Vịnh Bắc Bộ ngày nay, trong khi Hoàng Sa và Trường Sa lại cách xa Vịnh Bắc Bộ hàng trăm dặm về phía nam. Như vậy, các thư tịch cổ Trung Hoa từ đời nhà Tống đã cho thấy Hoàng Sa và Trường Sa không thuộc về Trung Quốc mà thuộc về nước khác mà Trung Quốc gọi là phiên quốc hay Giao Châu, Giao Chỉ. 

Vào đời nhà Nguyên, quân và dân Đại Việt đã 3 lần đánh tan quân Nguyên – Mông xâm lược và góp phần phá tan kế hoạch Đông Tiến (đánh Nhật Bản) của đoàn quân Mông Cổ nổi danh là bách chiến bách thắng từ đời Thành Cát Tư Hãn. Sau 3 phen thất bại, nhà Nguyên không còn dòm ngó Đại Việt cả trên lục địa đến các hải đảo. Trong suốt các thế kỷ XIII và XIV, theo chính sử Trung Hoa, quân Mông Cổ không hề có ý định xâm chiếm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trong Dư Địa Đồ đời Nguyên của Chu Tư Bản được vẽ thu nhỏ lại trong sách Quảng Dư Đồ của La Hồng Tiên thực hiện năm 1561 phần cực nam lãnh thổ Trung Hoa là đảo Hải Nam.

Đời nhà Minh, Thiên Hạ Thống Nhất Chi Đồ trong Đại Minh Nhất Thống Chí (1461), Hoàng Minh Đại Thống Nhất Tổng Đồ trong Hoàng Minh Chức Phương Địa Đồ (1635) đã vẽ phần cực nam Trung Hoa là đảo Hải Nam. Trong khi cuốn Vũ Bị Chí của Mao Nguyên Nghi gọi Biển Đông là Giao Chỉ Dương. Trên các bản đồ Trịnh Hoà Hạ Tây Dương, Trịnh Hòa Hàng Hải Đồ cũng không thấy ghi chép các danh xưng Hoàng Sa, Trường Sa (hay theo cách gọi của Trung Hoa là Tây Sa, Nam Sa, Tuyên Đức, Vĩnh Lạc) trong các lộ trình và hải đạo của Trịnh Hòa sau 7 lần đi qua Biển Đông để khai phá Ấn Độ Dương (Tây Dương). Nhiều tài liệu chính sử nhà Minh cho biết, từ thế kỷ XV, các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nguyên là địa bàn ngư nghiệp của Chiêm Thành đã trở thành lãnh thổ của Đại Việt. Lưu ý rằng từ năm 1427 Lê Lợi đã đánh thắng quân Minh để giành lại chủ quyền cho Đại Việt bị Minh Thành Tổ chiếm đoạt từ 20 năm trước (1407).

 

Đại Thanh Nhất Thống Toàn Đồ, đảo nhỏ ở phía dưới là Hải Nam, gần đó bên trái là Giao Chỉ, đảo lớn hơn bên phải là Đài Loan.

Đời nhà Thanh, từ thế kỷ thứ XVII đến XX, theo bản đồ Hoàng Thanh Nhất Thống Dư Địa Bản Đồ do triều đình nhà Thanh ấn hành năm 1894 thì đến cuối thế kỷ XIX “lãnh thổ của Trung Quốc chỉ chạy đến đảo Hải Nam là hết”. Qua thế kỷ XX, sự kiện này còn được xác nhận trong cuốn Trung Quốc Địa Lý Học Giáo Khoa Thư xuất bản năm 1906 với đoạn như sau: “Điểm cực nam của Trung Quốc là bờ biển Châu Nhai thuộc quận Quỳnh Châu (Hải Nam) tại vĩ tuyến 18”. Các quận Châu Nhai và Đạm Nhĩ thuộc đảo Hải Nam kéo dài từ vĩ tuyến 20 (ngang Thanh Hoá) đến vĩ tuyến 18 (ngang Nghệ An – Hà Tĩnh). Trong khi quần đảo Hoàng Sa tọa lạc về phía nam, từ vĩ tuyến 17 đến vĩ tuyến 15 (Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi) và quần đảo Trường Sa tọa lạc tại các vĩ tuyến 12 đến vĩ tuyến 8 (Cam Ranh – Cà Mau). Bản đồ Đại Thanh Đế Quốc do triều đình nhà Thanh ấn hành cũng không thấy vẽ các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (cũng không thấy ghi theo cách gọi của Trung Quốc là Tây Sa, Nam Sa, Vịnh Lạc, Tuyên Đức…). Hơn nữa, trong bộ Hải Quốc Đồ Ký, cuốn Hải Lục của Vương Bỉnh Nam (1820-1842) chép: “Vạn Lý Trường Sa (Hoàng Sa) là dải cát dài ngoài biển được dùng làm phên dậu che chắn mặt ngoài bờ cõi nước An Nam”. Như vậy, tư liệu này của Trung Quốc đã thừa nhận quần đảo Hoàng Sa là lãnh thổ trên biển của Việt Nam. Trong bộ sách địa lý Đại Thanh Nhất Thống Chí do Quốc Sử Quán nhà Thanh biên soạn năm 1842 với lời tựa của hoàng đế Thanh Tuyên Tông, không có chỗ nào ghi Thiên Lý Trường Sa hay Vạn Lý Trường Sa (quần đảo Hoàng Sa). Trong cuốn Hải Quốc Văn Kiến Lục của Trần Luân Quýnh (1744), vùng biển của Việt Nam tại Biển Đông được ghi bằng các danh xưng Việt Hải và Việt Dương. Trong vụ ngư dân đảo Hải Nam cướp tàu chở đồng bị đắm tại quần đảo Hoàng Sa những năm 1895-1896, để trả lời văn thư phản kháng của Chính phủ Anh, Tổng đốc Lưỡng Quảng Trung Hoa đã phủ nhận trách nhiệm với lý do: “Hoàng Sa không liên hệ gì tới Trung Quốc”. Ngoài ra cuốn Hải Ngoại Kỷ Sự (1695) của Thích Đại Sán một nhà sư thời Khang Hy đã đến đất Thuận Hóa của chúa Nguyễn ngày 29 tháng giêng năm Ất Hợi (13-3-1695) thuật lại chuyến hải hành này và ghi nhận chủ quyền của Đại Việt trong việc chiếm hữu, kiểm soát và khai thác vùng Biển Đông nơi tọa lạc hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ít nhất là từ thế kỷ thứ XVII. 

Các tài liệu cổ của Trung Hoa rõ ràng cho thấy hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (mà Trung Quốc gọi là Tây Sa và Nam Sa) đã được người Việt Nam phát hiện, sử dụng trong nhiều thế kỷ một cách hoà bình và liên tục không có sự phản đối của bất cứ quốc gia nào kể cả của Trung Quốc. Điều đó được minh chứng từ tư liệu chính sử của nhiều triều đại Trung Quốc trong đó đã mặc nhiên thừa nhận chủ quyền của người Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong suốt hơn 22 thế kỷ từ thời Tần, Hán cho đến đầu thế kỷ XX.

Nguon: http://baodatviet.vn/Home/chinhtrixahoi/Thu-tich-Trung-Hoa-thua-nhan-Hoang-Sa-Truong-Sa-thuoc-Viet-Nam/20116/152391.datviet

Giảng viên Trần Văn Quyến, Khoa Xã hội, ĐH Phú Xuân Huế, vừa công bố phát hiện bản đồ trong Khải đồng thuyết ước, sách giáo khoa dạy trẻ học vỡ lòng bằng chữ Hán thời vua Tự Đức, có vẽ về Hoàng Sa.

Phát hiện đặc biệt này được tác giả công bố trong bài viết: “Hoạt động của đội Hoàng Sa trong lịch sử” trong khuôn khổ đề tài “Font tư liệu về chủ quyền của Việt Nam đối với huyện đảo Hoàng Sa – thành phố Đà Nẵng” do Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế xã hội thành phố Đà Nẵng thực hiện và sắp được nghiệm thu.

Giảng viên Quyến cho biết, sách được khắc in lần đầu vào năm Quý Sửu Tự Đức thứ 6 (1853) và được sử dụng trong tất cả trường học ngay từ đầu đời Tự Đức cũng giống như sách giáo khoa ngày nay.

Sách dạy nhiều môn, dựa trên quan điểm tam tài (thiên, địa, nhân) với nhiều ưu điểm như dạy sử Việt Nam, những ghi chép về sản vật, kiến thức về xã hội (nhân sự, niên hiệu nước Việt Nam qua các đời); thiên nhiên (thiên văn, địa lý); cách tu dưỡng bản thân. Sách có hình vẽ bản đồ Việt Nam, mặt trời, mặt trăng, thân thể con người… Vì là sách giáo khoa nên đã được khắc nhiều lần trải qua các triều vua.

 
Tấm bản đồ trong sách Khải đồng thuyết ước có vẽ Hoàng Sa Chử (phần đảo Hoàng Sa được khoanh ô vuông đỏ).

Bản đồ Hoàng Sa trong Khải đồng thuyết ước có tên là “Bản quốc địa đồ” thuộc các trang 15-16 của sách. Trên bản đồ ghi vị trí các tỉnh, ngọn núi lớn từ cửa Nam Quan đến Biên Hòa, Vĩnh Long. Sau đó là những ghi chú số phủ, huyện, tổng, xã, phường, ấp, giáp, thuộc từng tỉnh.

“Phần ngoài biển đối diện với địa phận của Thừa Thiên và Quảng Nam trong bản đồ ghi chú về quần đảo Hoàng Sa với ba chữ Hoàng Sa Chử, có nghĩa là bãi (hay quần đảo) Hoàng Sa”, giảng viên Quyến nói.

Tiến sĩ Trần Đức Anh Sơn, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu và Phát triển kinh tế – xã hội Đà Nẵng cho biết, đây là một tư liệu quý về chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa. Khải đồng thuyết ước là sách giáo khoa in dưới triều Tự Đức, dùng để dạy cho trẻ em, trong đó có in hình bản đồ Đại Nam và trên đó ghi rõ địa danh Hoàng Sa chử (bãi Hoàng Sa). Điều này chứng tỏ triều Nguyễn đã ý thức rất rõ về chủ quyền biển đảo của tổ quốc và đưa vấn đề này vào sách giáo khoa để giáo dục trẻ em.

“Với việc phát hiện sách Khải đồng thuyết ước, lần đầu tiên chúng ta biết được có một cuốn sách giáo khoa của chế độ phong kiến đã đề cập đến chủ quyền của nước ta đối với quần đảo Hoàng Sa. Vì thế, tôi cho rằng phát hiện này rất có ích, nhất là đối với việc tuyên truyền giáo dục ý thức về chủ quyền biển đảo Việt Nam cho thế hệ trẻ”, TS. Trần Đức Anh Sơn khẳng định.

Ngày 15/6 vừa qua, giảng viên Trần Văn Quyến đã có bài tham luận về hoạt động của đội Hoàng Sa trong lịch sử tại hội thảo khoa học toàn quốc “Văn hóa biển đảo ở Khánh Hòa”. Trong đó, việc công bố bản đồ Việt Nam trong sách Khải đồng thuyết ước có vẽ về Hoàng Sa được đánh giá cao.

Văn Nguyễn

http://vnexpress.net/gl/xa-hoi/2011/06/phat-hien-sach-giao-khoa-thoi-vua-tu-duc-day-ve-hoang-sa/

2011-06-21

Critics say South China Sea implies Chinese ownership of the disputed waters. RFA Termsak Chalermpalanupap speaks at a conference on maritime security in Washington, June 20, 2011.

An official from the Association of Southeast Asian Nations (ASEAN) has suggested that changing the name of the South China Sea may help kick-start negotiations to resolve a longstanding maritime territorial dispute among China and five other Asian states. “Maybe what we should do for a start is to change the name. Call it the Friendship Sea or Sea of Peace. I think then we can start negotiating,” said Termsak Chalermpalanupap, Director of ASEAN’s Political and Security Directorate.

The Philippines, China, Brunei, Malaysia, Taiwan and Vietnam, all maintain various claims to parts of the South China Sea, and to its island chains, including the hotly-disputed Spratly and Paracel islands. Several nations use a different name domestically that supports its stake in the resource-rich sea.

In Vietnam, where citizens have held rare protests in recent weeks over naval incidents they say were initiated by Chinese actions in the South China Sea, officials refer to the body of water as the “East Sea.”

In the Philippines, officials in Manila refer to the sea as the “West Philippine Sea,” while Beijing simply refers to it as the “South Sea.”

Termsak said at a Washington conference on maritime security that Southeast Asian nations have been reluctant to negotiate with China because Beijing claims nearly all of the South China Sea. “The problem is that from the Chinese side, everything belongs to China and whoever has an overlapping claim will have to negotiate with China. And that’s why [there is a need for] a bilateral approach,” he said. “But from what I’ve heard from the claimants on the ASEAN side, they cannot go into bilateral [negotiations] because of the Chinese assumption that everything belongs to China. Certainly you can’t offer what you don’t own. The Chinese always believe that they own the whole South China Sea,” he said. Termsak then suggested changing the name of the South China Sea as a prelude to any negotiations. He proposed the use of a name for the sea that doesn’t imply outright Chinese ownership, saying it may allow other claimants to feel that they have more to bring to the negotiating table with Beijing.

Online petition Meanwhile, an online campaign initiated by the California-based Nguyen Thai Hoc Foundation in November to change the name of the South China Sea to the “Southeast Asia Sea” is gaining support as citizens of Southeast Asian nations staking a claim to the waters have expressed concerns about China’s increasing assertiveness. The campaign, which has a following on social media site Facebook, now boasts nearly 44,000 supporters who have signed a petition demanding the change. The petition states that the UN has officially recognized the region and the name “Southeast Asia” and that “the countries of Southeast Asia encompass almost the entire South China Sea with a total coastline measuring approximately 130,000 kilometers (81,250 miles) long” compared to only 2,800 kilometers (1,750 miles) of coastline in southern China. “The sea is not restricted to a specific country. It is a common heritage of mankind and has actually been used by the international community for centuries as the second most important water channel in the world,” it reads.

The petition has been sent to the Geographical Society of 10 countries, the Secretary General of the UN, the UN Atlas of the Oceans, and the presidents and prime ministers of 11 Southeast Asian countries. Several claims Last year, Washington said it was willing to back smaller Asian nations who felt threatened by China, which has pressed its sovereignty over the Spratlys and Paracels.

Washington is particularly concerned that China’s increasingly assertive maritime ambitions could trigger conflicts in the region that could hurt access to one of the world’s busiest commercial sea lanes.

Chinese Premier Wen Jiabao has assured ASEAN that Beijing is committed to implementing an agreed blueprint for managing their overlapping claims to ownership of the islands.

The Declaration on the Conduct of Parties in the South China Sea, called DOC by diplomats, was inked in 2002 as a first step towards a binding code of conduct for Beijing and the 10-member ASEAN group, but the agreement has been gathering dust.

China has objected to a key component of a set of guidelines proposed by ASEAN for implementation of the agreement. Four ASEAN claimants China is against a paragraph that allows the four ASEAN claimants in the South China Sea—Brunei, Malaysia, the Philippines, and Vietnam—to hold informal consultations among themselves prior to an ASEAN-China meeting, officials said. Beijing insists that the Spratly issue does not concern the four ASEAN claimants collectively, or ASEAN as a group.

ASEAN and China pledged in the DOC to resolve their sovereignty disputes in a peaceful manner, without resorting to the use of force. Brunei, Malaysia, the Philippines, Taiwan, and Vietnam have separate claims over parts of the Spratlys, while China claims all of the Spratlys and adjacent waters as well as other islands further south of China’s nine dotted dashes on its official map, which form a U shape reaching down to Indonesia’s Natuna Sea.

The Paracel Islands, like the Spratlys further south, are also claimed by both China and Vietnam. In 1976, China invaded and captured the islands from Vietnam.

Reported by Joshua Lipes.

http://www.rfa.org/english/news/china/name-06212011180409.html

Tác giả: Đài Trang
Bài đã được xuất bản.: 21/06/2011 05:00 GMT+7
 
 
 

Trên Internet lan truyền một video/clip ghi lại hình ảnh về “Vòng tròn bất tử” được các chiến sỹ công binh Việt Nam tạo nên xung quanh cột cờ Tổ Quốc để ngăn cản lính hải quân Trung Quốc xông lên cướp cờ, bảo vệ chủ quyền biên cương – Đó là hình ảnh trên bãi đá Gạc Ma những ngày tháng ba năm 1988. Trong đó, 9 chiến sỹ bị Trung Quốc bắt giữ, 61 chiến sỹ mất tung tích và 3 chiến sỹ hi sinh… Cuộc đời của những con người ấy sau hai mươi ba năm là những lá thư còn sót lại, những giọt nước mắt lăn dài trên má mẹ, là sự cơ cực, vất vả trong những bon chen cuộc sống…

Mẹ Trường Sa

Tôi trở lại Đà Nẵng vào một ngày mùa đông, phố xá còn ẩm ướt và gió rét căm căm. Hướng mắt về phía ngoài khơi kia là Hoàng Sa, và câu chuyện Trường Sa lại cháy lên, như ngọn lửa ấm lòng nhưng cũng mang đầy trăn trở.

Ngồi đối diện với mẹ Hồ Thị Lai, đôi mắt trũng sâu của mẹ làm sống mũi tôi cay cay, mẹ đang khóc khi kể về liệt sĩ Trương Quốc Hùng – người con trai dũng cảm của mẹ, anh nhập ngũ khi tuổi mới đôi mươi.

Ở tuổi 21, người ta vừa mới bắt đầu cuộc đời đã phải vội vàng kết thúc nó. Nhưng mẹ bảo: chết vì lý tưởng thì không có gì hối tiếc, mẹ chỉ có một điều hãy còn thương mãi, đó là khi xưa ở nhà gạo còn không đủ nấu cháo, bây giờ sung túc hơn thì lại không thể nấu cơm cho con mình được nữa. Tuổi tác không làm trí nhớ mẹ mờ đi. Biết bao nhiêu kí ức, từ những câu chuyện cũ thuở mẹ còn thiếu nữ, cho tới những chuyện kể của nửa thế kỷ sau – tất cả vẫn được mẹ nâng niu, cất giữ. Đó có lẽ là “két sắt vô hạn” ngay trong chính tâm khảm của mẹ. Đúc kết sau gần một đời người, mẹ chưa phải ân hận với bất cứ điều gì đã làm. Chợt nhớ tới phương châm sống của nhân vật  Pavel trong tác phẩm “Thép đã tôi thế đấy” mà một thời thế hệ thanh niên Việt Nam đã thuộc nằm lòng: “Đời người chỉ sống có một lần, phải sống sao cho khỏi phải xót xa, ân hận vì những năm tháng sống hoài, sống phí” – Với phẩm chất ấy, tôi xin được gọi mẹ là mẹ Việt Nam anh hùng.

Khi đau thương là tột cùng, người ta hoặc sẽ chấp nhận nó, hoặc lãng quên nó cho tâm tình vơi theo cát bụi. Trong khi gia đình liệt sỹ Trương Quốc Hùng chọn cách thứ hai thì gia đình liệt sỹ Lê Văn Xanh đã giữ lại tất cả những kỉ vật của anh: từ những lá thư, những trang nhật ký, những bộ quần áo đến cả chứng minh nhân dân…

Nghỉ Tết, anh trở về quê hương Hòa Cường đoàn tụ gia đình. Bao tâm tư nỗi niềm người lính, anh được dịp trút bầu tâm sự hết với mẹ. Mẹ nói: anh tài hoa nghệ sỹ lắm, viết- vẽ- đàn- ca đủ cả. Đã hai mươi ba năm trôi qua, không biết ngoài gia đình anh còn mấy ai biết được chuyện tình của người lính tên Xanh? Thời còn ở nhà, anh quen một người con gái, theo gia đình kể lại thì giữa họ chắc chắn là tình yêu.

Tin anh hi sinh tại đảo Gạc Ma báo về quê nhà, người con gái đau đớn khóc ròng mấy ngày dài. Dù rằng giữa họ chưa rõ đã có hứa hẹn gì hay chưa, nhưng bởi nỗi nhớ mong, chị xin phép gia đình lập bàn thờ anh tại nhà riêng. Hàng năm, người con gái ấy vẫn qua lại gia đình nhang khói cho anh mỗi dịp lễ Tết và giỗ chạp, việc này diễn ra cho tới khi chị quyết định lấy chồng. Không biết phải nghĩ thương đau với chị là thế nào, hay do đường duyên tình trắc trở mà  người chồng của chị cũng chết vì ngã trong khi thắp hương cho anh Xanh. Có lẽ  là do sự đời quá trái ngang, chị đã mang theo chân nhang anh mà tìm đến nương tựa cửa Phật.

Sau tất cả những đau thương,  người ta sẽ cố gìn giữ và ghi nhớ nó như một phần đã diễn ra trong cuộc đời mình, hay sẽ tự chôn kín như một điều gì đó riêng tư, khó chạm? Trong suốt cuộc trò chuyện, mẹ Lê Thị Muôn không tâm sự nhiều, nhưng gương mặt mẹ lại ẩn hiện nhiều nỗi niềm khó nói. Người con trai của mẹ – liệt sỹ Phan Văn Sự nhận lệnh nhập ngũ khi người anh cả đang tại ngũ và cha bệnh nặng trên giường. Được gia đình động viên “cứ yên tâm làm nhiệm vụ”, anh Sự lên đường. Trước khi ra Trường Sa theo chiến dịch chủ quyền 1988 ( gọi tắt là chiến dịch CQ88), anh được nghỉ phép về thăm gia đình. Có lẽ đến giờ mẹ vẫn không tin, đó cũng là lần cuối gặp anh.

Cuộc hành trình tìm về những câu chuyện nơi Trường Sa của tôi tiếp tục dừng lại ở một ngôi nhà nhỏ quạnh vắng, chỉ có hai người tuổi đã xế chiều ngày ngày vui vầy với nhau. Đó là cha mẹ liệt sỹ Nguyễn Phú Đoàn. Cha anh trước đây cũng từng là lính, cũng có biết bao tấm huân chương ghi dấu chặng đường đấu tranh mà ông đã trải qua. Nhưng giờ đây, tuổi già đã khiến ông không còn đủ khỏe để chống lại bệnh tật, “cha” cứ cố ngồi dậy nghe cho rõ câu chuyện giữa mẹ-con tôi. Người phụ nữ mà tôi ngồi đối diện lúc ấy, bình thường và giản dị như bao người dân thường khác, nhưng mẹ đã hi sinh tuổi thanh xuân vò võ chờ chồng và rồi dâng cho đất nước một chiến sỹ quả cảm. Những chấm đồi mồi, từng nếp nhăn cứ xếp lớp như con sóng xô bờ, đến cuối đời, mẹ vẫn chưa hết những vất vả những lo toan. Cuộc đời lúc này cô quạnh, vắng bóng người… có ai hiểu vì sao? Màu áo hải quân, và giọt nước mắt người đầu bạc khóc kẻ tóc xanh…!

Người đầu bạc khóc kẻ tóc xanh… (Ảnh: mẹ liệt sỹ Nguyễn Phú Đoàn và Phạm Văn Lợi)

Sự đánh đổi được qui từ máu – nước mắt – tự do và hạnh phúc của nhiều người cho an lành của muôn người. Nhưng rồi, người ta cũng vô tình bị lãng quên…?!

Đây không phải là tất cả những câu chuyện làm thay đổi cung bậc cảm xúc trong tôi, cũng chưa phải là tất cả những gì tôi có thể diễn tả được như khi tôi được cảm nhận bằng mắt, bằng tai và bằng cả trái tim. Biết là thế, tôi xin phép được dừng lại, hi vọng có chút dấu lặng trong lòng các bạn. Tuy vậy, tôi chắc chắn một điều rằng, còn trải nghiệm thì tôi sẽ vẫn còn kể tiếp, kể tiếp các bạn nghe về Trường Sa nơi Đà thành vào một dịp khác không xa…

Theo chiều dài Tổ Quốc

“Lịch sử vùng III hải quân 1975 – 2005″ do NXB Quân đội nhân dân đã ghi lại: “Ngày 14 tháng 3 năm 1988, khi các tàu vận tải cùng với bộ đội của ta đang thực hiện nhiệm vụ bảo vệ đảo Cô Lin, Gạc Ma và Len Đao, thì các tàu chiến của đối phương lao đến ngang ngược và bất chấp luật pháp quốc tế, họ đã dùng pháo lớn bắn vào các tàu HQ-604 ở đảo Gạc Ma, HQ-605 ở đảo Len Đao và HQ-505 ở đảo Cô Lin; cho quân đổ bộ lên đảo Gạc Ma nhổ cờ Tổ quốc, nổ súng vào bộ đội gây cho chúng ta nhiều tổn thất…”.

Không sợ nguy hiểm,  người chiến sĩ Trần Văn Phương đã lao vào giành giật lá cờ Tổ Quốc và trúng đạn. Anh để lại cho đời sau một di chúc: “Thà hi sinh chứ không chịu mất đảo, hãy để cho máu mình tô thắm lá cờ truyền thống của quân chủng hải quân anh hùng”.  Giây phút đó, anh đang là Phó chỉ huy trưởng đảo Gạc Ma (thuộc cụm đảo Sinh Tồn). Người thanh niên 23 tuổi này đã lỡ mất lời hứa “…về trông nhà cho em” với vợ mình.

Trở về Sài Gòn, đến bây giờ, tôi vẫn không ngờ mình gặp vợ người anh hùng ấy ngay giữa chốn phồn hoa đô thị này. Tôi gặp cô Mai Thị Hoa – vợ liệt sỹ Trần Văn Phương ( Quảng Trạch -Quảng Bình) giữa một chiều mưa gió. Nhắc tới anh, cô vẫn nghẹn ngào như câu chuyện vừa mới hôm qua. Trước khi theo tàu HQ 604 ra Trường Sa, anh còn dặn dò:

-  ”Mẹ cho con gửi nhà con ở đây, sau này hoàn thành nhiệm vụ, con sẽ về làm một căn nhà nhỏ rồi con đón vợ con qua”

- ” Nếu em muốn biết thông tin về anh thì cứ nghe trên báo đài, đừng đợi thư anh”

” Sau này mà anh về, anh sẽ chỉ giữ nhà cho em đi làm thôi, anh không đi làm đâu”…

Vẫn là một ngày cuối đông gió rét, chúng tôi đi trên con đường xứ Thanh gập ghềnh sỏi đá, tới một ngôi nhà đã phủ rêu phong, quạnh vắng tiếng người. Nơi đây, chúng tôi được gặp những người con của liệt sỹ Vũ Phi Trừ – thuyền trưởng tàu HQ604. Tiếp bước cha mình, người con trai lớn của anh – anh Đăng hiện đang là chiến sỹ hải quân thuộc Lữ đoàn 125 – nơi cha anh đã từng sống và cống hiến, tiếp tục theo cha ghi dấu chân đứng trên mũi tàu bảo vệ biên cương Tổ Quốc. Người con trai út bây giờ đã là cựu sinh viên của Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP HCM.

Trái đất tròn, dòng đời xô đẩy những bước chân vô tình chạm nhau. Đôi khi bần thần, tôi chợt nghĩ: lòng Sài Gòn rất rộng, ôm trọn mọi kiếp người, từ Đông tới Tây, từ Nam chí Bắc.

Nghe vang vọng câu ca nơi vĩ tuyến:

“Đò xuôi Thạch Hãn ơi chèo nhẹ

Đáy sông còn đó bạn tôi nằm

Có tuổi hai mươi thành sóng nước

Vỗ yên bờ bãi mãi ngàn năm”

Đất mẹ Quảng Trị anh hùng ghi dấu những người con ra đi không hẹn ngày trở về. Gió Lào và cát trắng, nghe như rát đến cả tâm can. Anh trai liệt sỹ Tống Sỹ Bái (Đông Hà – Quảng Trị) ngậm ngùi: “Không một kỷ vật, không một manh áo, không một nấm mồ!” – ‘Nghe xót xa như rụng bàn tay’!. Cuộc nói chuyện của chúng tôi với gia đình liệt sĩ Hoàng Ánh Đông trở nên đầy xúc động khi mẹ của liệt sĩ nghẹn ngào trong nước mắt: “Năm tháng qua lo làm ăn lăn lộn với cuộc sống làm quên đi chứ tới những ngày này các con về thăm, mẹ thấy đau khổ lắm!”. Sống mũi cay cay và đôi mắt nhòe đi, tôi cố gắng ghi lại những hình ảnh giây phút đó.

Nỗi đau mất mát là nỗi đau chung của bao người mẹ trên đất nước Việt Nam này, là nỗi đau của cả một thế hệ đứng giữa đoạn trường mà lịch sử phân chia. Ngày ấy, anh ra đi với tâm hồn phơi phơi của tuổi trẻ, hẹn ngày trở về với những khát vọng yêu thương. Dòng thơ viết nghiêng nghiêng trong trang lưu bút nói nên những tâm tư của buổi biệt ly: Biết khi nào gặp lại? Biết khi nào nhìn được mẹ thương yêu? Những người chiến sĩ ấy lên đường, hành trang mà họ tự gói ghém cho mình còn là niềm tin trở về. Dẫu bao gian nan đang chờ đợi, mặc cho sóng gió bão táp giữa biển khơi, các anh vẫn sống hết lòng cho lý tưởng, dành trái tim mình dâng tặng quê hương.

Một trang lưu bút của LS Hoàng Ánh Đông.

Hai mươi ba năm trôi qua không phải là quá dài nhưng chừng đó cũng đủ để con người ta lãng quên nhiều thứ. Hành trình tìm lại ký ức một thời máu lửa của những chiến sĩ Trường Sa năm nào của chúng tôi dẫu bị không gian địa lý ngăn cách, dẫu bị che mờ bởi thời gian nhưng tên tuổi của các anh sẽ được lưu danh sử sách muôn đời.

Nguồn: http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2011-06-20-phia-sau-nhung-nguoi-da-nga-xuong-vi-truong-sa-

——————————————————-

Từ năm 1988. Quá lâu để có 1 bài viết thế này trên dòng báo chính thống.

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.